Tag Archives: K.Pautopxki

cây cô đơn

đây là note viết tổng hợp hai note tôi đã viết gần đây vốn có nhiều điểm chung sau khi viết xong thì tôi đã xoá hai note có vẻ hơi lan man này rồi nhé. 

1. tôi nhớ mở đầu phim “the wind will carry us” đạo diễn Abbas Kiarostami đã để cho nhân vật nói gì đó về những cái cây cô đơn mọc trên ngọn đồi, đại khái là chúng rất đẹp. cảnh quay chỉ mất khoảng hai phút. và tôi có thể nói thêm gì đây về những cái cây cô đơn.

tôi đã xem qua vài bộ phim của Abbas Kiarostami. người ta gọi Trịnh là người ca thơ. người ta cũng ngợi ca K. Pautopxki là “nhà thơ bị đóng đinh trên cây thập giá của văn xuôi”. K.Pautopxki với những câu chuyện không có cốt truyện. và những bộ phim của Abbas Kiarostami cũng vậy. nó có thể khiến khán giả ngủ ngon giữa rạp, nhưng sau tất cả người ta nhận ra đó là nghệ thuật nguyên bản. và nếu có một biệt danh nào đó người ta cũng có thể gọi Abbas Kiarostami là “nhà thơ của nghệ thuật thứ 7″.

K. Pautopxki có những câu chuyện rất thơ, mà tôi rất thích như “tàu tốc hành Ximferopon” kể về một nhà thổ nhưỡng học, công việc bắt ông phải lên tàu tốc hành đi khắp nơi. và từ cửa sổ con tàu, ông “đã trông thấy một ngôi nhà gỗ ở cô đơn trên một cánh đồng cỏ khô bên bờ một cái khe”. có một vẻ đẹp gì đó thôi thúc ông phải ngoái nhìn lại ngôi nhà cô đơn ấy mỗi khi con tàu đi ngang qua trong nhiều năm liền. và ông mơ ước một ngày nào đó, rời bỏ con tàu “đến ở ngay ngôi nhà gỗ nhỏ bé với những cây cẩm quỳ giữa đồng cỏ, dưới những đám mây lười biếng, trong đại dương vô tận của lúa mì. tôi sẽ đi vào trong đời sống của những con người thuần phát…và có thể chỉ ở đây tôi mới tạo ra điều tốt đẹp nhất”

giữa ba con người tài hoa ấy có sự liên hệ nào không. và chắc là không. Trịnh có bài “để gió cuốn đi” thì Abbas Kiarostami cũng có phim “the wind will carry us” (gió sẽ mang chúng ta đi). chúng ta vẫn hay nghêu ngao rằng “sống trong đời sống cần có một tấm lòng. để làm gì em biết không. để gió cuốn đi. để gió cuốn đi”. mỗi người có những cách diễn đạt khác nhau nhưng hết thảy đều ca ngợi cuộc sống: “hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. còn cuộc đời ta cứ vui.”

trong phim “the wind will carry us”, Abbas Kiarostami để cho nhân vật thoại những lời trữ tình trên cánh đồng nghệ thuật đầy gió:

“người ta bảo tôi là đời sống bên kia đẹp như nàng tiên thượng giới. nhưng tôi thì nói rằng chất rượu nho còn ngon hơn thế nữa. hãy yêu hiện tại và đừng nghe những lời hứa hão huyền. cho dù tiếng trống êm đềm đang từ xa vọng lại”.

2. năm 2020 với rất nhiều biến động, dịch bệnh và kể cả cái chết. có một vài sự kiện vào tháng 12 nhưng cuối cùng lại bị hủy bởi dịch covid. nó cũng ảnh hưởng phần nào tới kế hoạch của tôi. nhưng biết sao được. live concert “the veston” của Hà Anh Tuấn dự kiến diễn ra vào 26/12 tại Đà Lạt cũng bị hủy. Hà Anh Tuấn có chia sẻ rằng: âm nhạc của anh sẽ là âm nhạc của hạnh phúc. sau một ngày mệt mỏi, bạn hãy đặt mình lên chiếc giường và mở bản nhạc mà mình thích. bạn đã bao giờ làm thế chăng?

Hà Anh Tuấn đã hát những bài như “nếu như” hay “người tình mùa đông” trong “see sing share” ở một nơi mà anh nói rằng lãng mạn nhất Đà Lạt và tuyệt vời hơn là hát những bài về sự cô đơn dưới cây thông cô đơn.

“nếu như phải cách xa. chắc em đâu biết là. đêm buồn theo ánh trăng tàn”

khi tôi nghĩ mình sẽ nghỉ việc và trở về nhà. cảm giác hơi tiếc nuối khi xa rời một nơi nhộn nhịp, phồn hoa đô hội. nhưng tôi bắt đầu cảm thấy mình đã không bắt nhịp được với cuộc sống nơi đây. nhưng tất cả, có những vấn đề lớn hơn, kiểu như nhà cửa và tiền bạc. tôi có cảm giác, mình đã không còn đủ thời gian để xây một ngôi nhà ở sài gòn. tôi sẽ trở về nhà, kiếm một công việc, chăm sóc lại mảnh vườn và bắt đầu một cái gì đó mới mẻ. trở về với cánh đồng bao năm quên lãng.

cái thành phố đó có quá nhiều con đường và nhiều cơ hội. bạn sẽ không thể nào chơi trên một cây đàn piano mà không biết rõ nó có bao nhiêu phím. cái thành phố đó có tất cả mọi thứ trừ điểm kết thúc. tôi không nghĩ mình tìm ra một điểm kết thúc. nhưng đây không phải là lần đầu tiên tôi rời bỏ Sài Gòn. cũng như tôi từng rời bỏ Vũng Tàu sau 5 năm. sau bao nhiêu năm lang thang, hành trang mang theo cũng chẳng có gì. nhưng tôi sẽ trở về nhà, sau một ngày mệt mỏi, đặt mình lên chiếc giường và nghe một bản nhạc mà mình thích.

năm 2020 cũng không phải là một năm quá tệ. tôi cũng kịp xây lại ngôi nhà vốn đã cũ kỹ và dột nát. khi tôi trở về thì mọi thứ dường như đã hoàn thành. không phải là một ngôi nhà đắt tiền. nhưng tôi vẫn vui vì đó là thành quả sau những năm tháng lang thang nơi xứ người. tôi có thể tự tay trồng những bông hoa…

3. khi ấy, tôi nói rằng “anh sẽ tìm một công việc ở gần nhà, anh cảm thấy mình không đủ nguồn lực để tiếp tục ở sài gòn”. em thì bảo rằng “như thế cũng tiện”. và chúng ta không nhắn nhủ gì thêm kể từ đó. một trạng thái im lặng kéo dài. anh không biết đến khi nào em sẽ lại nhắn “hi, anh. dạo này thế nào rồi”. hoặc là không bao giờ.

vào giáng sinh ấy, tôi thấy người ta đăng một truyện ngắn của Nabokov, cũng với tựa đề là “giáng sinh” kể về nỗi đau của một người cha mất cậu con trai có sở thích sưu tầm những cánh bướm. đó cũng là sở thích của Nabokov. chính vì sở thích ấy mà những truyện ngắn của Nabokov có phần ma mị, nhiều màu sắc và bí ẩn. ông có một truyện ngắn được xem là bí ẩn và hay nhất thế giới “dấu hiệu và biểu hiện”. tôi nhớ ra là mình đã mua tập truyện ngắn “thanh âm” của Nabokov do Thiên Lương dịch. Nabokov vốn là người Nga lưu vong, thành thạo nhiều ngôn ngữ Anh, Nga, Pháp. Nabokov bảo rằng, ông nói bằng tiếng Anh, tim – tiếng Nga và nghe – tiếng Pháp. ông từng phàn nàn về những bản dịch truyện ngắn không truyền tải đúng những gì ông viết. về sau này Nabokov kiêm luôn vai trò dịch giả chính tác phẩm của ông. tôi không nghi ngờ về bản dịch của Thiên Lương nhưng văn Nabokov có lối diễn đạt riêng, ngắn gọn, súc tích và mang nhiều tầng ý nghĩa. điều đó làm khó những dịch giả. tôi đã không thể nào đọc hết cuốn “thanh âm”. 

và vào một ngày như hôm nay thì tôi có thể mở ra nếp gấp của hai năm trước và bắt đầu rằng “anh cảm thấy mình được gột rửa trong nỗi buồn kẻ khác, rạng rỡ bằng nước mắt kẻ khác. đó là cảm giác hạnh phúc…”

um. đúng thế đấy, hạt mưa vào đêm đông nào đó có thể khiến chúng ta dịu mình lại, vùi chăn vào giấc ngủ sâu. một cái cây đơn độc giữa cánh đồng mênh mông khiến chúng ta muốn khóc vì biết rằng mình không cô đơn. một bản nhạc buồn bã phát trên chiếc radio cũ kỹ, lại là bản nhạc hay nhất mà chúng ta muốn nghe lại.

tôi đã loay hoay về truyện ngắn “thanh âm” ấy. cho đến khi nghĩ rằng nhà văn đã nói gì đó về sự im lặng. thì Mozart cũng từng bảo rằng: lặng cũng là âm nhạc. thật khó tưởng tượng nếu như âm nhạc không có những khoảng lặng.

“anh ngắt lời em bằng sự im lặng của mình.

vệt nắng trượt từ váy em xuống cát: do em dịch người đi.

anh có thể nói gì với em?

tự do?

ngục tù?

không đủ yêu em?”

tôi không đủ yêu em.

4. tôi vốn dĩ cũng từng có ý định nghiêm túc với âm nhạc. đùa thôi. tôi đã nghiên cứu qua nhạc lý, và mơ ước có một cây đàn guitar. thật kỳ lạ là cây đàn guitar tôi luyện đầu tiên chỉ có 5 dây. đó là cây đàn của gã hàng xóm, gã giờ đã bỏ vợ chạy theo nhân tình. còn sự nghiệp luyện đàn của tôi cũng bỏ sông, bỏ chợ. tôi không đánh được bản nào cả. nhưng tôi cũng cố vớt vác lại ít nhiều bằng việc mua cây đàn guitar đầu tiên trong đời. nhưng rồi, sau tất cả, tôi vẫn để nó vào trong góc. đợt vừa rồi, khi rời bỏ sài gòn tôi nghĩ mình nên bỏ lại cây đàn. nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn đóng gói nó lại và mang ra cửa hàng shipper để vận chuyển về quê. tôi đóng gói rất sơ sài, người nhận vận chuyển còn bảo, tôi phải ký cam kết hãng sẽ không chịu trách nhiệm khi hàng đổ, vỡ. và cây đàn không hề hấn gì, yên nằm trong góc, như bằng chứng cho tính gàn dỡ của tôi. có thể suốt đời, tôi sẽ không đánh được bản nhạc nào.

tôi từng đọc một truyện ngắn thế này: về một chàng trai sống trong chung cư, thỉnh thoảng chàng trai nghe được tiếng đàn piano phát ra từ tầng dưới bài “the man i love” của Gershwin. chàng trai đem lòng yêu cô gái chơi đàn, những buổi tối chờ đợi để được nghe tiếng đàn réo rắt, vui tươi, tưới mát tâm hồn sầu úa. rồi một ngày, chàng trai quyết tâm gõ cửa để làm quen với cô gái. nhưng người bước ra lại là một chàng trai. giây phút đó, có lẽ chàng hiểu rằng, mình đã yêu tiếng đàn, chứ không phải người chơi đàn. như lời của Phạm Duy rằng: “người ôi ! tôi thường hay muốn biết. với tình hoa thắm thiết. yêu tôi hay yêu đàn?”

5. à, mà tôi nghĩ Nabokov có thể là một nhà thơ. bạn có nghĩ, những câu văn như thế này được viết ra bởi một nhà thơ?

“Các thế kỷ sẽ trôi qua,

– học sinh sẽ chán ngấy

lịch sử những chấn động của chúng ta,

– tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ qua đi,

song

hạnh phúc của tôi,

bạn yêu ơi,

hạnh phúc của tôi sẽ còn mãi,

– trong ánh đèn đường ẩm ướt,

trong chỗ ngoặt cẩn thận của cái cầu thang đá dốc xuống con kênh nước đen,

trong nụ cười một đôi khiêu vũ,

trong mọi thứ

mà Chúa

hào phóng bao bọc

quanh sự cô đơn của con người.”

đôi khi tôi vẫn nghĩ không có gì đẹp bằng một cái cây cô đơn giữa cánh đồng. và trong lòng mỗi người đều có một cái cây cô đơn. đẹp và thơ mộng.

Victor Hugo

P/s: Hôm nay thấy trên google có biểu tượng Tôn vinh Victor Hugo. Và đây là một bài viết của của K.Pautovski.

victor_hugo_tg_2

Trên đảo Jersey trên biển Manche, nơi Victor Hugo bị lưu đày, người ta đặt tượng kỷ niệm ông.

Bức tượng đặt ngay trên bờ lở trông xuống đại dương. Bệ đặt tượng rất thấp, chỉ cao chừng hai mươi hoặc ba mươi phân. Cỏ mọc trùm lấy bệ. Vì thế trông như Victor Hugo đứng ngay trên mặt đất.

Tượng tạc ông đang đi ngược gió. Ông gập người về phía trước, áo choàng bay phần phật. Hugo giữ mũ trong tay để gió khỏi cuốn mất. Toàn thân ông ở trong cuộc vật lộn với sức đẩy của bão đại dương.

Bức tượng đặt trong một vùng hoang vắng, từ đó trông rõ mỏm đá, nơi yên nghỉ cuối cùng của thủy thủ Julias trong cuốn “Những Người Lao Động Của Biển Cả”.

Chung quanh, trong tầm mắt, chỉ toàn là đại dương không lúc nào yên lặng đang rú rít. Những đợt sóng lớn liếm láp chân những mỏm đá, cất bổng lên, lắc lư những bụi hải thảo và ầm ầm nặng nhọc xông vào những hốc ngầm.

Trong những ngày sương mù người ta có thể nghe rõ tiếng còi gào thét buồn thảm của những hải đăng xa. Đêm đêm những ánh lửa hải đăng nằm dọc chân trời, ngay sát mặt đại dương. Chúng thường bị nhận chìm trong nước. Chỉ căn cứ vào dấu hiệu ấy ta mới biết được những đợt sóng che lấp ánh hải đăng, đẩy đại dương lên bờ đảo Jersey, lớn đến thế nào.

Mỗi khi đến ngày kỷ niệm Victor Hugo tạ thế, dân đảo Jersey đặt dưới chân tượng Hugo mấy nhành vạn niên thanh. Một thiếu nữ đẹp nhất đảo được cử đi đặt những nhành vạn niên thanh dưới chân Hugo.

Vạn niên thanh có những lá bầu dục chắc nịch màu ô-liu. Ở đây, người ta tin rằng vạn niên thanh mang lại hạnh phúc cho người sống và kỷ niệm sâu xa cho kẻ chết.

Điều họ tin là sự thật. Sau khi chết, tinh thần nổi loạn của Hugo lang thang khắp nước Pháp.

Đó là một con người nồng nhiệt, điên dại và sôi nổi.

Ông phóng đại tất cả những gì ông nhìn thấy và những gì ông viết ra. Thị giác của ông vốn thế. Đối với ông cuộc đời được tạo thành bởi những đam mê lớn lao, được thể hiện một cách hào hùng và trang trọng.

Đó là nhạc trưởng vĩ đại của một dàn nhạc lớn gồm toàn kèn và sáo. Tiếng kèn hân hoan, tiếng trống ầm ầm, tiếng sáo lanh lảnh và buồn bã, tiếng sáo lớn khàn khàn. Đó là thế giới âm nhạc của ông.

Nhạc của những tác phẩm của ông cũng hùng dũng như tiếng sấm của sóng triều đại dương đập vào bờ. Nó làm đất giật mình. Và trái tim của những người yếu ớt cũng rung lên.

Nhưng ông không thương những trái tim ấy. Ông là kẻ điên rồ trong khát vọng muốn truyền cho toàn thể nhân loại nỗi căm thù, niềm hân hoan và tình yêu sôi nổi của mình.

Ông không phải chỉ là hiệp sĩ của tự do. Ông là sứ giả, là người đưa tin, là người hát rong ca ngợi tự do. Ông như đứng trên mọi ngã ba, ngã tư của tất cả những con đường trên trái đất này mà kêu lên: “Hỡi các công dân, hãy nắm lấy vũ khí”.

Ông xông vào cái thế kỷ cổ điển và đáng ngán như một ngọn cuồng phong, như một cơn gió lốc, nó mang lại những dòng mưa ào ạt, những lá, những đám mây đen, những cánh hoa, khói thuốc súng và những huy hiệu gài trên mũ bị giật xuống.

Ngọn gió đó tên là lãng mạn.

Nó luồn vào trong bầu không khí tù hãm của châu Âu và lấy hơi thở của niềm mơ ước bất kham mà nó mang trong mình làm tràn ngập bầu không khí đó.

Tôi lặng đi và mê mẩn vì cái nhà văn điên cuồng ấy từ lúc còn thơ khi đọc xong năm lần liền cuốn “Những Người Khốn Khổ”. Tôi đọc xong và ngay ngày hôm đó lại bắt đầu đọc lại.

Tôi kiếm được một tấm bản đồ Paris và đánh dấu trên đó những nơi xảy ra sự việc trong tiểu thuyết. Tôi gần như đã trở thành một người tham gia cuốn truyện và đến ngày nay trong thâm tâm tôi vẫn coi Jean Valjean, Cosette và Gavroche là bạn thời thơ ấu của mình.

Từ thuở ấy Paris không còn là quê hương của những nhân vật của Victor Hugo nữa mà đã trở thành cả quê hương tôi. Chưa nhìn thấy Paris bao giờ, nhưng tôi đã yêu mến Paris. Càng về sau tình cảm ấy càng thêm vững chắc.

Thêm vào với Paris của Victor Hugo là Paris của Balzac, Guy de Maupassant, Dumas, Flaubert, Zola, Jules Vallès, Anatole France, Romain Rolland, Alphonse Dodet, Paris của Villon và Arthur Rimbaud, Prosper Mériméevà Stendhal, Henri Barbusse và Béranger.

Tôi sưu tầm những bài thơ nói về Paris và chép riêng vào một quyển vở. Rất đáng tiếc là tôi đã đánh mất quyển vở ấy, nhưng nhiều đoạn trong những bài thơ thì tôi đã thuộc lòng. Những vần thơ khác nhau – hoa mỹ và giản dị:

Bạn sẽ gặp một thành phố thần tiên

Những thế kỷ ròng bao người sùng mến

Hãy dạo chơi cho lòng hết ưu phiền

Cho tay mình lấy lại sức tiên thiên

Bên những bồn phun nước vườn Luxembourg tuyệt diệu

Và một con đường tiêu huyền ngả bóng

Như Mimi diễm kiều trong truyện của Murger

Victor Hugo đã gợi lên cho nhiều người trong chúng ta tình yêu đầu tiên đối với Paris và chúng ta mang ơn ông vì điều đó. Nhất là những ai đã được hạnh phúc nhìn thấy thành phố vĩ đại này.

Tuyết

Tuyết là một trong những truyện ngắn hay và rất đẹp của Pautopxki. Thế giới của “Tuyết” là thế giới của tình yêu dịu dàng và thanh khiết. Thế giới của “Tuyết” là thế giới đẹp yên bình trước cuộc thế chiến thứ hai. Thế giới của Tuyết là thế giới mà người ta có thể khóc vì hạnh phúc.
Nhà thơ Bằng Việt từng viết những câu thơ thế này:
” Đưa em đi… Tất cả thế xong rồi
Ta đã lớn. Và Pautopxki đã chết! …
Anh vẫn khóc khi nghĩ về truyện “Tuyết”
Dẫu chẳng bao giờ mong đợi nữa đâu em! “
Và dẫu cuộc sống không ngọt ngào hoàn toàn như trong thế giới của Pautopxki, và chúng ta đã từng biết khóc – những giọt nước mắt không phải vì hạnh phúc, thì “Tuyết” vẫn như một giấc mơ trong trẻo nhất, thanh khiết nhất…
—————————-

 

Tachiana Petrovna dọn đến nhà cụ Potapov được một tháng thì cụ mất. Nàng ở lại một mình với đứa con gái nhỏ là Varia và người vú già.

Ngôi nhà nhỏ, chỉ có ba gian, ở trên một ngọn đồi trông xuống con sông phía Bắc ngay đầu tỉnh lị. Sau nhà, bên kia khu vườn đã trụi lá là một rừng bạch dương phi màu trắng bạc. ở đó, từ sáng đến tối, lũ quạ kêu quàng quạc, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trần trụi báo hiệu trời xấu.

Từ khi rời Moskva, Tachiana mãi vẫn không sao quen được cái tỉnh lị đìu hiu với những ngôi nhà nhỏ bé, những cánh cửa hàng rào kêu ken két, những buổi tối vắng lặng, nghe rõ cả tiếng ngọn đèn dầu ho nổ lép bép. “Mình ngốc quá! – Nàng nghĩ – Không dưng đi bỏ Moskva, nhà hát và bè bạn! Đáng lẽ phải đưa Varia đến với bà vú ở Puskino, nơi đó chưa bị máy bay bắn phá lần nào, còn mình thì cứ việc ở lại Moskva. Trời, mình thật ngốc!”.

Nhưng không thể trở lại Moskva nữa rồi, Tachiana quyết định sẽ biểu diễn trong các trạm quân y – trong thị xã này có vài trạm – và nàng cảm thấy yên tâm. Nàng còn thấy thích cái tỉnh lỵ ấy nữa là khác, nhất là khi đông về và tuyết xuống phủ đầy. Ngày lại ngày, êm dịu và xám ngắt. Sông mãi chưa đóng băng, mặt nước màu xanh lá cây bốc khói. Tachiana quen dần với tỉnh lị và cả với ngôi nhà không phải của mình. Nàng đã quen chiếc dương cầm lạc giọng, những tấm ảnh úa vàng trên tường chụp những thiết giáp hạm cổ lỗ bao vệ bờ biển. Trước kia, cụ Potapov làm thợ máy tàu biển. Trên cái bàn giấy phủ dạ xanh của cụ có đặt mô hình tuần dương hạm “Grômôbôi”, trên tàu đó cụ đã làm việc, Varia không được phép sờ mó vào mô hình ấy. Và nói chung, không được sờ mó vào bất cứ vật gì. Tachiana biết cụ Potapov có con trai đang phục vụ ở trong hạm đội “Hắc Hải”. Trên bàn, bên cạnh mô hình tuần dương hạm, có bức ảnh của anh. Đôi lúc, Tachiana cầm bức ảnh lên ngắm nghía rồi nhíu đôi lông mày thanh thanh lại, nghĩ ngợi. Nàng cứ có cảm giác là đã gặp anh ở một nơi nào đó, nhưng đã lâu lắm rồi, trước cả cuộc hôn nhân không toại nguyện của nàng. Nhưng ở đâu? Và khi nào nhỉ? Anh lính thuỷ nhìn nàng bằng đôi mắt bình thản hơi có vẻ chế nhạo, như muốn hỏi: “Thế nào chị? Chẳng lẽ chị vẫn chưa nhớ ra là chúng ta đã gặp nhau ở đâu hay sao?”

  • Không, tôi không nhớ – nàng trả lời khe khẽ.
  • Mẹ ơi, mẹ nói chuyện với ai thế? – Varia từ phòng bên hỏi to.
  • Với cái dương cầm con ạ – Tachiana mỉm cười đáp lại.

Vào giữa mùa đông bắt đầu có những lá thư do cùng một bàn tay viết gửi cho cụ Potapov, Tachiana xếp những lá thư ấy lại trên bàn.

Một lần đang đêm nàng chợt thức giấc. ánh tuyết mờ mờ chiếu vào cửa kính. Con mèo xám Arkhiv của cụ Potapov để lại đang ngáy khò khò trên đi văng. Tachiana khoác áo choàng mỏng vào phòng làm việc của cụ Potapov và đứng môt lát bên cửa sổ. Một con chim lặng lẽ bay vút ra khỏi cây làm tuyết đổ xuống. Tuyết bay như bụi trắng phủ một lớp mỏng trên mặt kính. Tachiana thắp ngọn nến trên bàn, ngồi xuống ghế bành và nhìn mãi ngọn nến. Ngọn nến cũng chả buồn lay động. Sau đó nàng thận trọng lấy ra một bức thư, bóc phong bì, nhìn chung quanh rồi bắt đầu đọc: ” Cha yêu quý, thế là con đã nằm bệnh viện được một tháng, – nàng đọc – Vết thương không nặng lắm. Đại thể là nó đang lên da non. Xin cha đừng lo lắng và chớ hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Con van cha đấy!” ” Con luôn nhớ đến cha, – Tachiana đọc tiếp – đến ngôi nhà của cha con ta, đến tỉnh lị của chúng ta. Tất cả những cái đó xa xăm quá, tưởng như ở đâu mãi chân trời. Con nhắm mắt lại và thấy con mở cửa hàng rào, bước vào vườn. Mùa đông, tuyết xuống, nhưng con đường nhỏ dẫn tới phong đình bên dốc đã được quét dọn sạch sẽ, còn băng bụi phủ đầy những khóm tử đinh hương. Lò sưởi trong phòng kêu tí tách. Khói bạch dưng thoang thoảng. Cây dương cầm cuối cùng đã được lên dây lại và cha đã cắm những cây nếnvàng hình xoắn ốc con mua từ Leningrad vào những chân đèn. Và vẫn những bản nhạc ấy trên chiếc đàn? Bạn tự khúc của vở nhạc kịch ” Con đầm Pích” và tình ca ” Trên bờ cõi Tổ quốc xa xôi.” Không biết quả chuông treo ở cửa có kêu không? Thế là con vẫn chưa kịp chữa. Chả lẽ rồi con sẽ lại được gặp tất cả những cái đó? Chả lẽ rồi con lại được lấy nước giếng trong bình mà rửa sạch bụi đường xa? Cha nhớ không? Ôi,nếu cha biết được rằng từ chốn xa xôi này con yêu mến tất cả những cái đó biết chừng nào? Cha đừng ngạc nhiên, nhưng con nói với cha một cách thật nghiêm túc rằng con nhớ đến những cái đó trong những phút ác liệt nhất của trận đánh. Con biết rằng con đang bảo vệ không riêng gì bờ cõi đất nước mà cả cái góc nhỏ bé và thân yêu ấy trong lòng con: tức là cả cha, cả khu vườn nhà ta, cả những chú bé tóc bù xù trong làng ta, cả những khu rừng bạch dương bên kia sông và cả con mèo Arkhiv nữa. Xin cha đừng cười và đừng lắc đầu cha nhé. Có thể khi ra viện con sẽ được về nhà ít lâu. Điều đó chưa chắc lắm. Tốt hơn là cha đừng đợi“.

Tachiana ngồi mãi bên bàn, mắt mở to nhìn qua cửa sổ, nơi bình minh bắt đầu hé lên trong màu xanh dày đặc và nghĩ rằng rồi đây, ngày một ngày hai, một người không quen biết có thể từ mặt trận trở về ngôi nhà này và người đó sẽ phải đau khổ khi phải gặp những người xa lạ ở đây và phải trông thấy mọi vật hoàn toàn không giống như ý người đó muốn.

Sáng hôm sau, Tachiana sai Varia lấy xẻng ra dọn con đường dẫn tới phong đình trên bờ dốc. Cái lầu ấy đã hoàn toàn cũ nát. Những cột gỗ mốc meo, rêu phủ đầy. Tachiana tự tay chữa lấy quả chuông con treo trên cửa. Trên chuông có một hàng chữ đúc đến buồn cười “Ta treo trên cửa – hãy giật cho vui!” Tachiana đụng vào chuông, nó kêu lên lanh lảnh. Con mèo Arkhiv khó chịu, ve vẩy đôi tai, rồi bực dọc đi ra khỏi nhà; có lẽ nó cho tiếng chuông vui vẻ kia là càn rỡ. Trưa hôm đó, Tachiana, má ửng hồng, cười nói ầm ĩ, mắt quầng thâm vì xúc động, từ ngoài phố về dắt theo một ông lão lên dây đàn, một người Tiệp dã Nga hoá. Ông làm nghề chữa đèn cồn. đèn dầu ho, búp bê, ắccoocđêông và lên dây đàn dương cầm. Ông lão có cái họ nghe rất buồn cười: ” Neviđan” (của lạ). Sau khi lên dây đàn, ông già nói rằng chiếc đàn cũ nhưng rất tốt. Không cần ông nói Tachiana cũng biết. Khi ông lão đã ra về, Tachiana cần thận lục khắp các ngăn kéo bàn và tìm thấy một gói nến to hình xoắn ốc. Nàng cắm vào các chân nến đặt trên dưng cầm. Tối đến, nàng thắp nến, ngồi chơi đàn, và tiếng nhạc tràn ngập ngôi nhà. Khi Tachianan ngừng chơi và tắt nến đi thì một làn khói thơm to ra khắp các phòng như quanh cây thông ngày hội. Varia không chịu được nữa.

  • Sao mẹ lại đụng vào đồ vật của người khác? – Nó hỏi Tachiana – Mẹ cấm con, còn mẹ thì lại đụng vào đủ mọi thứ? Nào chuông, nào nến, nào đàn. Mẹ lại còn đặt những bản nhạc của người ta lên trên dương cầm nữa.
  • Vì mẹ là người lớn, – Tachiana tr lời. Varia chau mày, ngờ vực nhìn mẹ. Lúc này Tachiana không giống người lớn một chút nào. Mặt nàng tươi hẳn lên và nom giống cô gái tóc vàng đã đánh rơi chiếc hài pha lê trong hoàng cung. Chính Tachiana đã kể cho Varia nghe chuyện cô gái ấy.
  • Ngồi trên tàu hoả, trung uý Nicolai Potapov đã tính rằng anh chỉ có thể ở với cha nhiều lắm là một ngày đêm. Hạn nghỉ phép thì ngắn mà đi đường đã chiếm gần hết thời gian. Tàu hoả tới thành phố vào ban ngày. Ngay tại nhà ga, trung uý được người quen làm trưởng ga cho biết cha anh mất đã một tháng và một nữ ca sĩ trẻ cùng đứa con gái đang ở nhà anh.

    • Chị ta người tản cư, – ông trưởng ga nói.

    Nicôlai im lặng nhìn ra ngoài cửa kính, nơi những hành khách mặc áo bông, đi ủng dạ, tay cầm ấm nước, đang chạy. Anh thấy chóng mặt.

    • Vâng, – trưởng ga nói – Cụ nhà là người thật tốt bụng. Thế mà cụ chết đi mà không kịp gặp con trai.
  • Bao giờ lại có tàu ra, thưa bác? – Nicôlai hỏi.
  • Năm giờ sáng mai, – ông lão nói, rồi im lặng một lát và nói tiếp – Anh lại đàng tôi chơi. Bà lão nhà tôi sẽ pha trà, làm cơm anh ăn. Anh không phải về nhà nữa đâu.

  • Cám ơn bác. – Nicôlai trả lời và bước ra. Ông trưởng ga nhìn theo, lắc đầu.

  • Nicôlai đi qua tỉnh lị về bờ sông. Phía trên là một bầu trời xanh xám. Tuyết lơ thơ, bay chênh chếch giữa trời và đất. Mấy con quạ bước đi bước lại trên con đường phân rác bẩn thỉu. Trời sẩm tối. Gió thổi từ bên kia bờ sông, từ những cánh rừng, làm anh chảy nước mắt. “Làm sao được! – Nicôlai nói! – Chậm mất rồi! Và giờ đây cái tỉnh lị này, cả con sông và ngôi nhà – mọi thứ đối với ta gần như xa lạ!” Anh ngoảnh nhìn sườn đồi bên kia thành phố. ở đó hiện ra lờ mờ ngôi nhà trong khu vườn tuyết phủ. Từ ống khói to ra, khói bị gió cuốn về cánh rừng bạch dương. Nicôlai thong thả bước về phía nhà mình. Anh định không vào nhà mà chỉ đi ngang thôi, cũng có thể rẽ vào vườn đứng một lát trong cái lầu nghỉ chân cũ kĩ. Thật khó chịu khi nghĩ rằng những người thờ xa lạ đang ở trong ngôi nhà của cha anh. Tốt hơn là chẳng nhìn thấy gì hết để khỏi phải đau lòng, cứ đi đi và lãng quên dĩ vãng. ” ồ – Nicôlai nghĩ bụng – con người mỗi ngày một trưởng thành, và nhìn sự vật chung quanh một cách nghiêm khắc hơn.”

    Nicôlai về đến nhà khi trời tối. Anh nhẹ nhàng mở cửa vào vườn, nhưng nó vẫn kêu ken két. Mảnh vườn như giật mình. Tuyết đọng trên cành rơi xào xạc. Anh nhìn quanh. Trên con đường nhỏ dẫn tới phong đình, tuyết đã được dọn sạch. Nicôlai vào trong lầu, đặt hai tay lên cái lan can cũ kĩ. Đằng xa, bên kia rừng, bầu trời hồng lên mờ nhạt: có lẽ trăng đã lên sau những đám mây. Nicôlai cất mũ, lấy tay vuốt tóc. Chung quanh yên lặng, chỉ ở dưới chân đồi, mấy người đàn bà xách những chiếc xô rỗng kêu long xong đi đến lỗ băng lấy nước. Anh chống cùi tay trên lan can, nói khẽ:

    • Có thể nào lại như thế?

    Có ai đó nhè nhẹ chạm vào vai anh. Nicôlai ngoảnh lại. Đằng sau anh là một thiếu phụ trẻ, có khuôn mặt xanh xao và nghiêm nghị, đầu trùm khăn len. Thiếu phụ nhìn anh bằng đôi mắt sâu thẳm và chăm chú. Trên mi mắt và má nàng những bông tuyết tan dần. Có lẽ đó là tuyết trên cành rơi xuống.

    • Anh đội mũ vào kẻo cảm lạnh đấy! – Thiếu phụ nói khẽ – Mời anh vào nhà đi. Không nên đứng ở đây.

    Nicôlai im lặng. Thiếu phụ nắm lấy tay áo của anh và dẫn anh theo những con đường nhỏ đã dọn sạch. Đến bên thềm Nicôlai dừng lại. Xúc động làm anh nghẹn ngào, không sao thở được. Thiếu phụ vẫn nói khe khẽ:

    • Không sao, xin anh đừng ngại vì chuyện tôi ở đây. Cảm giác đó sẽ qua ngay thôi. Nàng giậm chân để rũ tuyết bám vào giày. Tức khắc quả chuông ở phòng mắc áo reo lên lanh lảnh đáp lại. Nicôlai thở dài thực mạnh, lấy hơi. Anh bước vào nhà, vẻ bối rối, lẩm bẩm điều gì. ở phòng ngoài, mới cởi áo choàng anh đã ngửi thấy mùi khói bạch dương thoang thoảng và nhìn thấy con mèo Arkhiv. Nó ngồi ngáp dài trên đi văng. Một cô bé tóc bím đứng bên đi văng và nhìn anh bằng cặp mắt sung sướng, nhưng không phi nhìn mặt anh mà nhìn mấy viền vàng trên tay áo anh.
  • Vào đây, anh! – Tachiana nói và dẫn anh vào bếp.
  • Trong bếp có bình giếng nước lạnh và treo một chiếc khăn vải lanh quen thuộc thêu hình những chiếc lá sồi. Tachiana trở ra. Đứa con gái mang xà phòng cho Nicôlai và nhìn anh cởi áo, rửa mặt. Nỗi bối rối trong lòng anh vẫn chưa tan.

    • Mẹ cháu là ai vậy? – Anh hỏi đứa bé và đỏ ửng mặt. Anh hỏi câu đó cho có hỏi mà thôi.
  • Mẹ cháu tưởng mẹ cháu là người lớn. – Con bé thì thầm với một vẻ bí ẩn.- Nhưng mẹ cháu chẳng phi là người lớn tẹo nào. Mẹ cháu còn xoàng hơn cả cháu nữa cơ.
  • Tại sao vậy? – Anh hỏi Nhưng con bé không trả lời, nói cười và chạy ra ngoài.

  • Suốt buổi tối anh không sao xua đuổi được cảm giác nhẹ nhàng mà sâu lắng. Mọi vật trong nhà xếp đặt đúng theo ý anh muốn. Vẫn những bản nhạc ấy trên dương cầm, vẫn những cây nến hình xoắn ốc đang cháy, nổ tí tách và chiếu sáng phòng làm việc của cha anh. Cả những bức thư anh gửi từ bệnh viện về cũng nằm trên bàn, dưới chiếc địa bàn cũ mà ngày trước ông cụ vẫn thường dùng chặn lên thư. Uống trà xong, Tachiana dẫn Nicôlai ra sau cánh rừng thăm mộ cha anh. Mặt trăng mờ mờ đã lên cao. Những cây bạch dưng tỏa sáng yếu ớt trong ánh trăng ngả bóng nhẹ xuống tuyết. Đêm đã khuya, Tachiana ngồi trước dương cầm, nhẹ nhàng lựa phím đàn, rồi ngoảnh lại nhìn Nicôlai và nói:

    • Tôi cứ có cảm giác là tôi đã gặp anh ở đâu rồi.
  • Vâng, cũng có lẽ – anh đáp.
  • Nicôlai nhìn thiếu phụ. ánh nến ở bên cạnh soi sáng nửa khuôn mặt nàng. Anh đứng dậy đi đi lại lại trong phòng rồi dừng lại.

    • Không, tôi không nhớ ra được! – Anh nói giọng trầm trầm .

    Tachiana ngoảnh lại hốt hoảng nhìn Nicôlai nhưng không nói gì hết. Nàng đã sửa soạn chỗ ngủ cho Nicôlai trên chiếc đi văng trong phòng làm việc, nhưng anh không sao chợp mắt được. Mỗi phút trong ngôi nhà này đối với anh thực sự quý báu và anh không muốn bỏ mất phút nào. Anh nằm lắng nghe bước chân rón rén của con mèo Arkhiv, tiếng đồng hồ tích tắc, tiếng thì thào của Tachiana với người vú già sau cánh cửa đóng. Rồi những giọng nói im bặt, người vú già đã đi, những vệt sáng ở dưới cánh cửa vẫn không tắt. Anh nghe thấy các trang giấy loạt soạt: chắc Tachiana còn đọc sách. Anh đoán nàng thức cốt để gọi anh dậy cho kịp tàu. Anh muốn nói với nàng rằng anh cũng không ngủ, nhưng anh không dám gọi.

    Bốn giờ sáng, Tachiana khe khẽ mở cửa và gọi Nicôlai.Anh cựa mình.

    • Anh dậy đi thôi, đến giờ rồi,- nàng nói – Tôi rất tiếc phải đánh thức anh.

    Tachiana tiễn anh ra ga khi thành phố đang yên giấc. Sau hồi chuông thứ hai họ từ giã nhau. Tachiana đưa cả hai tay cho Nicôlai và nói:

    • Anh nhớ viết thư nhé! Giờ đây chúng ta như người thân. Phải vậy không anh?
      Nicôlai không trả lời, anh chỉ gật đầu.

    Mấy hôm sau, Tachiana nhận được một bức thư của Nicôlai viết ở dọc đường: ” Tôi đã nhớ ra chúng ta gặp nhau ở đâu – anh viết -nhưng tôi không muốn nói với em khi còn ở nhà. Em có nhớ Krưm năm hăm bảy không? Mùa thu. Những cây tiêu huyền cổ thụ ở công viên Livađia. Trời u ám, biển nhợt nhạt. Tôi đi theo con đường nhỏ tới Orêanđa. Trên chiếc ghế dài bên đường có một thiếu nữ đang ngồi. Cô ta chừng 16 tuổi. Trông thấy tôi, cô ta đứng dậy và đi về phía tôi. Khi chúng tôi đi ngang nhau, tôi liếc nhìn cô. Cô ta đi qua tôi rất nhanh, nhẹ nhàng, tay cầm một cuốn sách mở rộng. Tôi dừng lại, nhìn theo cô ta rất lâu. Thiếu nữ đó là em. Tôi không thể nhầm được. Tôi nhìn theo em và cảm thấy rằng người con gái vừa đi qua bên cạnh tôi, người có thể làm tan vỡ cả đời tôi mà cũng có thể đem lại hạnh phúc cho tôi. Tôi hiểu rằng mình có thể yêu người con gái ấy đến quên cả thân mình. Lúc đó tôi đã biết rằng phải tìm được em dù phi trả bằng giá nào. Tôi nghĩ vậy, nhưng vẫn đứng lì tại chỗ. Vì sao – tôi chẳng biết. Từ ngày ấy tôi yêu Krưm và con đường nhỏ, nơi tôi đã gặp em trong giây lát và mất em vĩnh viễn. Nhưng cuộc đời đã thương tôi và tôi lại được gặp em. Nếu mọi việc ổn thoả và em cần đến cuộc đời tôi, thì tất nhiên nó sẽ là của em. À, tôi đã thấy bức thư của tôi bị bóc ra để trên bàn. Tôi đã hiểu tất cả và chỉ biết cám ơn em từ nơi xa này.” Tachiana đặt lá thư xuống, đôi mắt mơ màng nhìn qua cửa sổ ra mảnh vườn tuyết phủ, đoạn thốt lên:

    • Trời, mình có ở Krưm bao giờ đâu? Chưa bao giờ! Nhưng lúc này cái đó có gì quan trọng? Và để cho anh ấy tuyệt vọng làm gì? Và cả mình nữa!

    Nàng cười, đưa tay lên che mắt. Ngoài cửa sổ ánh tà dương mờ nhạt vẫn tỏa sáng, mãi không sao tắt được