Category Archives: những ngày xưa thân ái

cây cô đơn

đây là note viết tổng hợp hai note tôi đã viết gần đây vốn có nhiều điểm chung sau khi viết xong thì tôi đã xoá hai note có vẻ hơi lan man này rồi nhé. 

1. tôi nhớ mở đầu phim “the wind will carry us” đạo diễn Abbas Kiarostami đã để cho nhân vật nói gì đó về những cái cây cô đơn mọc trên ngọn đồi, đại khái là chúng rất đẹp. cảnh quay chỉ mất khoảng hai phút. và tôi có thể nói thêm gì đây về những cái cây cô đơn.

tôi đã xem qua vài bộ phim của Abbas Kiarostami. người ta gọi Trịnh là người ca thơ. người ta cũng ngợi ca K. Pautopxki là “nhà thơ bị đóng đinh trên cây thập giá của văn xuôi”. K.Pautopxki với những câu chuyện không có cốt truyện. và những bộ phim của Abbas Kiarostami cũng vậy. nó có thể khiến khán giả ngủ ngon giữa rạp, nhưng sau tất cả người ta nhận ra đó là nghệ thuật nguyên bản. và nếu có một biệt danh nào đó người ta cũng có thể gọi Abbas Kiarostami là “nhà thơ của nghệ thuật thứ 7″.

K. Pautopxki có những câu chuyện rất thơ, mà tôi rất thích như “tàu tốc hành Ximferopon” kể về một nhà thổ nhưỡng học, công việc bắt ông phải lên tàu tốc hành đi khắp nơi. và từ cửa sổ con tàu, ông “đã trông thấy một ngôi nhà gỗ ở cô đơn trên một cánh đồng cỏ khô bên bờ một cái khe”. có một vẻ đẹp gì đó thôi thúc ông phải ngoái nhìn lại ngôi nhà cô đơn ấy mỗi khi con tàu đi ngang qua trong nhiều năm liền. và ông mơ ước một ngày nào đó, rời bỏ con tàu “đến ở ngay ngôi nhà gỗ nhỏ bé với những cây cẩm quỳ giữa đồng cỏ, dưới những đám mây lười biếng, trong đại dương vô tận của lúa mì. tôi sẽ đi vào trong đời sống của những con người thuần phát…và có thể chỉ ở đây tôi mới tạo ra điều tốt đẹp nhất”

giữa ba con người tài hoa ấy có sự liên hệ nào không. và chắc là không. Trịnh có bài “để gió cuốn đi” thì Abbas Kiarostami cũng có phim “the wind will carry us” (gió sẽ mang chúng ta đi). chúng ta vẫn hay nghêu ngao rằng “sống trong đời sống cần có một tấm lòng. để làm gì em biết không. để gió cuốn đi. để gió cuốn đi”. mỗi người có những cách diễn đạt khác nhau nhưng hết thảy đều ca ngợi cuộc sống: “hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. còn cuộc đời ta cứ vui.”

trong phim “the wind will carry us”, Abbas Kiarostami để cho nhân vật thoại những lời trữ tình trên cánh đồng nghệ thuật đầy gió:

“người ta bảo tôi là đời sống bên kia đẹp như nàng tiên thượng giới. nhưng tôi thì nói rằng chất rượu nho còn ngon hơn thế nữa. hãy yêu hiện tại và đừng nghe những lời hứa hão huyền. cho dù tiếng trống êm đềm đang từ xa vọng lại”.

2. năm 2020 với rất nhiều biến động, dịch bệnh và kể cả cái chết. có một vài sự kiện vào tháng 12 nhưng cuối cùng lại bị hủy bởi dịch covid. nó cũng ảnh hưởng phần nào tới kế hoạch của tôi. nhưng biết sao được. live concert “the veston” của Hà Anh Tuấn dự kiến diễn ra vào 26/12 tại Đà Lạt cũng bị hủy. Hà Anh Tuấn có chia sẻ rằng: âm nhạc của anh sẽ là âm nhạc của hạnh phúc. sau một ngày mệt mỏi, bạn hãy đặt mình lên chiếc giường và mở bản nhạc mà mình thích. bạn đã bao giờ làm thế chăng?

Hà Anh Tuấn đã hát những bài như “nếu như” hay “người tình mùa đông” trong “see sing share” ở một nơi mà anh nói rằng lãng mạn nhất Đà Lạt và tuyệt vời hơn là hát những bài về sự cô đơn dưới cây thông cô đơn.

“nếu như phải cách xa. chắc em đâu biết là. đêm buồn theo ánh trăng tàn”

khi tôi nghĩ mình sẽ nghỉ việc và trở về nhà. cảm giác hơi tiếc nuối khi xa rời một nơi nhộn nhịp, phồn hoa đô hội. nhưng tôi bắt đầu cảm thấy mình đã không bắt nhịp được với cuộc sống nơi đây. nhưng tất cả, có những vấn đề lớn hơn, kiểu như nhà cửa và tiền bạc. tôi có cảm giác, mình đã không còn đủ thời gian để xây một ngôi nhà ở sài gòn. tôi sẽ trở về nhà, kiếm một công việc, chăm sóc lại mảnh vườn và bắt đầu một cái gì đó mới mẻ. trở về với cánh đồng bao năm quên lãng.

cái thành phố đó có quá nhiều con đường và nhiều cơ hội. bạn sẽ không thể nào chơi trên một cây đàn piano mà không biết rõ nó có bao nhiêu phím. cái thành phố đó có tất cả mọi thứ trừ điểm kết thúc. tôi không nghĩ mình tìm ra một điểm kết thúc. nhưng đây không phải là lần đầu tiên tôi rời bỏ Sài Gòn. cũng như tôi từng rời bỏ Vũng Tàu sau 5 năm. sau bao nhiêu năm lang thang, hành trang mang theo cũng chẳng có gì. nhưng tôi sẽ trở về nhà, sau một ngày mệt mỏi, đặt mình lên chiếc giường và nghe một bản nhạc mà mình thích.

năm 2020 cũng không phải là một năm quá tệ. tôi cũng kịp xây lại ngôi nhà vốn đã cũ kỹ và dột nát. khi tôi trở về thì mọi thứ dường như đã hoàn thành. không phải là một ngôi nhà đắt tiền. nhưng tôi vẫn vui vì đó là thành quả sau những năm tháng lang thang nơi xứ người. tôi có thể tự tay trồng những bông hoa…

3. khi ấy, tôi nói rằng “anh sẽ tìm một công việc ở gần nhà, anh cảm thấy mình không đủ nguồn lực để tiếp tục ở sài gòn”. em thì bảo rằng “như thế cũng tiện”. và chúng ta không nhắn nhủ gì thêm kể từ đó. một trạng thái im lặng kéo dài. anh không biết đến khi nào em sẽ lại nhắn “hi, anh. dạo này thế nào rồi”. hoặc là không bao giờ.

vào giáng sinh ấy, tôi thấy người ta đăng một truyện ngắn của Nabokov, cũng với tựa đề là “giáng sinh” kể về nỗi đau của một người cha mất cậu con trai có sở thích sưu tầm những cánh bướm. đó cũng là sở thích của Nabokov. chính vì sở thích ấy mà những truyện ngắn của Nabokov có phần ma mị, nhiều màu sắc và bí ẩn. ông có một truyện ngắn được xem là bí ẩn và hay nhất thế giới “dấu hiệu và biểu hiện”. tôi nhớ ra là mình đã mua tập truyện ngắn “thanh âm” của Nabokov do Thiên Lương dịch. Nabokov vốn là người Nga lưu vong, thành thạo nhiều ngôn ngữ Anh, Nga, Pháp. Nabokov bảo rằng, ông nói bằng tiếng Anh, tim – tiếng Nga và nghe – tiếng Pháp. ông từng phàn nàn về những bản dịch truyện ngắn không truyền tải đúng những gì ông viết. về sau này Nabokov kiêm luôn vai trò dịch giả chính tác phẩm của ông. tôi không nghi ngờ về bản dịch của Thiên Lương nhưng văn Nabokov có lối diễn đạt riêng, ngắn gọn, súc tích và mang nhiều tầng ý nghĩa. điều đó làm khó những dịch giả. tôi đã không thể nào đọc hết cuốn “thanh âm”. 

và vào một ngày như hôm nay thì tôi có thể mở ra nếp gấp của hai năm trước và bắt đầu rằng “anh cảm thấy mình được gột rửa trong nỗi buồn kẻ khác, rạng rỡ bằng nước mắt kẻ khác. đó là cảm giác hạnh phúc…”

um. đúng thế đấy, hạt mưa vào đêm đông nào đó có thể khiến chúng ta dịu mình lại, vùi chăn vào giấc ngủ sâu. một cái cây đơn độc giữa cánh đồng mênh mông khiến chúng ta muốn khóc vì biết rằng mình không cô đơn. một bản nhạc buồn bã phát trên chiếc radio cũ kỹ, lại là bản nhạc hay nhất mà chúng ta muốn nghe lại.

tôi đã loay hoay về truyện ngắn “thanh âm” ấy. cho đến khi nghĩ rằng nhà văn đã nói gì đó về sự im lặng. thì Mozart cũng từng bảo rằng: lặng cũng là âm nhạc. thật khó tưởng tượng nếu như âm nhạc không có những khoảng lặng.

“anh ngắt lời em bằng sự im lặng của mình.

vệt nắng trượt từ váy em xuống cát: do em dịch người đi.

anh có thể nói gì với em?

tự do?

ngục tù?

không đủ yêu em?”

tôi không đủ yêu em.

4. tôi vốn dĩ cũng từng có ý định nghiêm túc với âm nhạc. đùa thôi. tôi đã nghiên cứu qua nhạc lý, và mơ ước có một cây đàn guitar. thật kỳ lạ là cây đàn guitar tôi luyện đầu tiên chỉ có 5 dây. đó là cây đàn của gã hàng xóm, gã giờ đã bỏ vợ chạy theo nhân tình. còn sự nghiệp luyện đàn của tôi cũng bỏ sông, bỏ chợ. tôi không đánh được bản nào cả. nhưng tôi cũng cố vớt vác lại ít nhiều bằng việc mua cây đàn guitar đầu tiên trong đời. nhưng rồi, sau tất cả, tôi vẫn để nó vào trong góc. đợt vừa rồi, khi rời bỏ sài gòn tôi nghĩ mình nên bỏ lại cây đàn. nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn đóng gói nó lại và mang ra cửa hàng shipper để vận chuyển về quê. tôi đóng gói rất sơ sài, người nhận vận chuyển còn bảo, tôi phải ký cam kết hãng sẽ không chịu trách nhiệm khi hàng đổ, vỡ. và cây đàn không hề hấn gì, yên nằm trong góc, như bằng chứng cho tính gàn dỡ của tôi. có thể suốt đời, tôi sẽ không đánh được bản nhạc nào.

tôi từng đọc một truyện ngắn thế này: về một chàng trai sống trong chung cư, thỉnh thoảng chàng trai nghe được tiếng đàn piano phát ra từ tầng dưới bài “the man i love” của Gershwin. chàng trai đem lòng yêu cô gái chơi đàn, những buổi tối chờ đợi để được nghe tiếng đàn réo rắt, vui tươi, tưới mát tâm hồn sầu úa. rồi một ngày, chàng trai quyết tâm gõ cửa để làm quen với cô gái. nhưng người bước ra lại là một chàng trai. giây phút đó, có lẽ chàng hiểu rằng, mình đã yêu tiếng đàn, chứ không phải người chơi đàn. như lời của Phạm Duy rằng: “người ôi ! tôi thường hay muốn biết. với tình hoa thắm thiết. yêu tôi hay yêu đàn?”

5. à, mà tôi nghĩ Nabokov có thể là một nhà thơ. bạn có nghĩ, những câu văn như thế này được viết ra bởi một nhà thơ?

“Các thế kỷ sẽ trôi qua,

– học sinh sẽ chán ngấy

lịch sử những chấn động của chúng ta,

– tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ qua đi,

song

hạnh phúc của tôi,

bạn yêu ơi,

hạnh phúc của tôi sẽ còn mãi,

– trong ánh đèn đường ẩm ướt,

trong chỗ ngoặt cẩn thận của cái cầu thang đá dốc xuống con kênh nước đen,

trong nụ cười một đôi khiêu vũ,

trong mọi thứ

mà Chúa

hào phóng bao bọc

quanh sự cô đơn của con người.”

đôi khi tôi vẫn nghĩ không có gì đẹp bằng một cái cây cô đơn giữa cánh đồng. và trong lòng mỗi người đều có một cái cây cô đơn. đẹp và thơ mộng.

ai mang bụi đỏ đi rồi

đôi khi, thật khó để bắt đầu một điều gì đó. kiểu như để mở đầu một cuộc trò chuyện. đôi lúc, tôi vẫn tự hỏi, nó sẽ mang chúng ta đi tới đâu, giữa bao người hay cũng chỉ là một câu chuyện còn bỏ ngõ.

hôm nay, tôi nghe bài “ngày xưa hoàng thị”. nghe với vẻ chăm chú từng từ, từng chữ, với cả giọng luyến láy ma mị của người ca sĩ. nhưng, có những chi tiết mà người nghệ sĩ không nói ra hoặc họ ẩn giấu đâu đó cho những kẻ lơ đãng. thế thì, chúng ta có bao giờ tự hỏi “hoàng thị” tên đầy đủ là gì? hóa ra, “hoàng thị” có một cái tên cũng ma mị và nên thơ “hoàng thị ngọ”. trong bài hát có câu “em tan trường về, anh theo Ngọ về”

thật ra thì tôi chỉ muốn nói đến câu cuối bài hát “ai mang bụi đỏ đi rồi”.

bây giờ để nói về ngày xưa thì còn quá ngắn. nhưng ít hôm trước là đám cưới Vinh, tôi đã không trở về. có quá ít lý do để từ chối, đáng lẽ ra tôi nên trở về. nhưng cuộc đời khó có thể trọn vẹn, tôi và nó dù sao cũng ở chung phòng trọ trong suốt ngần ấy năm ở vũng tàu. nói nó là phòng trọ cũng đúng, nhưng chúng tôi không phải trả tiền phòng.

nhiều sự kiện sau này nghĩ lại, tôi cảm thấy rất ngớ ngẩn. nhưng chúng ta đã làm thế và sống như thế. thật kỳ lạ. đây là một đoạn tôi viết nhiều năm trước:

“khoảng hai năm trước, tôi và Vinh có thuê một mảnh đất, cách chỗ làm khoảng tầm 15 cây số. chúng tôi bị đánh lừa bởi đám cỏ dại vào mùa mưa đã che lấp đi những khô cằn sỏi đá, trầm tích dưới đó.

căn nhà với mảng tường nứt toác. cây mai nhiều năm không ra hoa. những cây điều theo nghĩa hoang tàn và năm cây xoài có vẻ sung sức lắm. chủ của nó, một người giàu có, mua nhà ở thị trấn và treo biển bán đất lủng lẳng, xiêu vẹo ở ngõ nhiều năm liền nhưng vì quá cằn cỗi mà không ai mua. cánh rừng tràm bên cạnh thỉnh thoảng lại thổi vào một cơn gió mát lạnh. tôi mua một chậu hoa dạ yến thảo treo ở cành mai, nở những hoa tím ngắt, bé xíu.

tôi đã chán ngấy với việc nhốt mình trong căn phòng trọ chật hẹp ở khu tập thể công nhân. mái tôn tỏa ra sức nóng hầm hập vào mùa hè.

mỗi chiều trên đường trở về, nhìn từ xa những quả núi trông như cái đầu của một thằng oắt con được cắt gọt theo kiểu tân thời, trơ lên những khối đá đỏ bạc màu. những chiếc xe chở đá, cát bụi bay mù mịt, giày xéo cả con đường.  đất ở đây trở nên cằn cỗi, khi mà rừng cây dần mất đi, những mạch nước ngầm cũng không còn. tôi sợ, không biết đến khi nào, họ sẽ phá nát những quả núi xanh um nơi đây. cát bụi cũng như có màu đỏ.

hàng xóm là một gia đình từ miền Bắc. nhà họ có một ao cá trơ đáy vào mùa khô và nuôi đủ thứ, bò, gà, vịt, dê. họ có một vườn rau. buổi tối, sau bữa cơm, cả gia đình họ lại ngồi trước hiên nhà. ấm trà đặt trên bộ ghế đá thật thanh nhàn, nói đủ thứ chuyện. thỉnh thoảng, họ lại im bặt để tiếng đứa trẻ ê a học bài.

“chữ này , không phải là chữ H đâu nhé!”

nơi đây, làm tôi nghĩ đến quê nhà với cái vẻ bình yên của nó. những đêm trăng, khi đi bộ qua cánh rừng tràm, gió xào xạc và mát lạnh. hai chú chó cứ quấn lấy chân tôi. sự trầm lặng của cánh rừng làm mọi thứ như lắng đọng. trái tim tôi rộn ràng điều gì đó khó hiểu. tôi châm điếu thuốc cho đỡ hiu quạnh.

tôi lớn hơn Vinh bốn tuổi. nó là đứa không có bố. mẹ nó qua lại với một người đã có gia đình và sinh ra nó. người ta cố đoán ra xem, khuôn mặt của nó mang bản sao của ai. từ căn nhà  tranh dột nát, ngập nước vào mùa mưa, cho đến khi mẹ nó tích góp đủ tiền xây ngôi nhà bằng xi măng, gạch đá, khang trang hơn trước rất nhiều. từ một chú bé loắt choắt, nó cũng lớn lên, thay mẹ làm tất cả mọi việc của một người đàn ông trong gia đình, bỏ phân, kéo rạ, đến gặt đập, gánh lúa.”

tôi vẫn nghĩ lại về quãng thời gian đó, đôi khi nó cũng rất nên thơ. tôi vẫn nhớ về căn nhà có những mảng tường nứt toát, có cây mai nhiều năm không ra hoa, cánh rừng tràm trầm lặng và xào xạt mỗi khi có cơn gió đi qua, có những cây điều xiêu vẹo mà người ta bỏ hoang nhiều năm liền. kể cả cây xoài, mà mỗi lúc không có gì ăn, chúng tôi lại nghĩ đến món mắm xoài. và chậu hoa dạ yến thảo.

nơi chân trời không ngày tháng

ấy là đợt chúng tôi đi Nam Du và đó cũng là chuyến đi duy nhất trong năm. có thể anh không thích chụp hình cho lắm, nhưng có một bức ảnh giữa đại dương trên con thuyền tròng trành ra đảo ấy cũng đáng giá.

nay đã là 29 Tết rồi. cũng chẳng có việc gì để làm. thê thảm đến thế chăng. ngoài việc chơi tài xỉu, nghe thật buồn cười. nhưng sự thật luôn là thể. vì anh sẽ không về quê đón Tết. đây là năm thứ hai rồi. bà nội, bà ngoại đều đã già yếu đi nhiều. vậy mà..nếu em biết anh sầu đời đến thế, có lẽ em cũng sẽ chán anh. sao thế nhỉ.. cuộc đời.

vô tình nghe câu hát tưởng chừng vu vơ lại khiến anh đến thế. có thể bạn sẽ phải ở giữa đại dương, trời giá lạnh và vào một ngày giáp tết, mới thấy hết được “nơi chân trời không ngày tháng, phiêu du quên đường về”

trên bức ảnh ở giữa đại dương xanh là thế, cái áo của anh cũng xanh đến lạ thường nếu là người khác chắc họ sẽ viết caption là “có bao giờ chân trời xanh thế”. nhưng anh lại viết là “thà là rong rêu lênh đênh trên biển”. nghe chán quá nhỉ.

anh cũng chỉ sẽ mơ “có bao giờ chân trời xanh thế” là chân trời nơi quê nhà chứ không phải giữa đại dương mênh mông ấy. giữa đại dương, anh cũng chỉ là một loài rong rêu. phải thế chăng. xin lỗi, những năm tháng anh đã không trở về như cánh én mùa xuân kia. trở về với những điều nhỏ bé để sưởi ấm lại lòng mình suốt những năm giá lạnh. nếu có nước mắt, anh nghĩ là băng giá đang tan chảy.

những năm tháng, không ngày tháng. anh chỉ thấy mình già đi. anh thấy đời bề bộn hơn thì phải. anh cũng hy vọng vào một ngày mùa xuân trời giá lạnh. anh trở về nhà, có chậu hoa vàng trước ngõ. vùi thân mình vào chiếc chăn ấm mà khóc như một đứa trẻ. thế thôi.

rồi anh cũng sẽ mang chăn màng ra phơi như những ngày xưa ấy. như phơi lại lòng mình.

“tôi nhớ mẹ tôi thởu thiếu thời. lúc người còn sống, tôi lên mười. mỗi lần nắng gió reo ngoài nội. áo đỏ người đưa trước giậu phơi”

Anh cũng yêu người khác rồi.

Xin lỗi, cơn mưa vừa qua. Chủ nhật, anh vẫn dậy sớm. Cẩn thận lên lịch cho tuần tới và viết tiếp…những dòng tưởng chừng như lang thang vô định.

Xin lỗi những câu chuyện dang dở trong đời anh. Xin lỗi, nếu như anh đã không bắt chuyện vì cảm thấy chúng sẽ chẳng đi đến đâu. Và vì cuộc đời không được như ý, những mất mác, những biến cố, đang đẩy anh đến với đại dương xa lạ, cô đơn. 

Tuần trước, Phát gửi cho anh một tấm hình. Trong ấy, Phát khoác lên mình tấm áo nhà Phật màu vàng rực, đầu cạo trọc, chụp chung cùng với người sư phụ Lương Sơn Long Viễn. Trên face thì nó còn cẩn thận ghi vài dòng caption: Duyên trần trả hết cho đời. Cuộc vui anh bỏ, bạn đời anh buông?

Anh hơi bất ngờ, nhưng Phát chẳng giải thích gì thêm. Theo những dòng sông, anh nghĩ Phát sẽ đi đến đại dương và khoác lên mình tấm áo đó như một sự chọn lựa. Hẳn thế. Đôi khi, anh cũng muốn vứt bỏ, một cảm xúc tức thời. Như có lần anh đã gọi điện về nhà và hét toáng lên với mỗi người về rượu và thuốc lá. Anh cũng không định hình mình sẽ phải sống như thế nào, đang cầm nắm điều gì, biến cố gì sẽ đến tiếp theo, nhưng không phải là em. Như anh đã không trở về nhà vào mùa xuân, đó là nỗi chán chường thật sự.

Anh lục lại vài tấm hình trên zalo của Phát. Tấm này, có lẽ, mang nhiều sắc thái, biểu cảm hơn cả. Anh nhớ lại khoảng ba năm về trước, đó là lần đầu tiên gặp Phát. Lúc đó, Phát vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự và chấp nhận làm công nhân 12 tiếng một ngày. Phát hát hay và biết đàn một chút, chỉ vậy thôi.

Bố mẹ mất sớm, vài người anh chị, cũng không dư dã gì, phận ai nấy lo. Anh có thể cố diễn giải thêm trí nhớ của mình và viết một câu chuyện thật dài về Phát. Nhưng rồi, Phát bảo sẽ không làm một người công nhân nữa, ngày làm 12 tiếng, tối về chỉ kịp ngủ, thấy đời tối tăm lắm. Phát lên Sài Gòn kiếm việc khác, lúc thì làm lái xe, lúc thì làm thợ sắt, thợ nhôm.. linh tinh hết cả.

Bẵng đi một thời gian, Phát gọi điện hỏi, có thể cho nó mượn 2 triệu để đưa cho cô bạn gái đi phá thai. Cô gái đã có chồng, hai đứa con, nhưng vì chồng nhậu nhẹt, cờ bạc, vướng nợ nần nên cô lên Sài Gòn và hai người ăn nằm với nhau. Anh thì bảo rằng, khi nào có trả cũng được. Phát quả quyết rằng, có thể cưới cô gái làm vợ và nuôi hai đứa con của cô. Nhưng người ta chỉ xem đó là một chuyện thoáng qua.

Lúc ở Vũng Tàu, thỉnh thoảng, anh cũng lên nhà thăm Phát. Căn nhà nhỏ, lộ vẻ hoang tàn và cỏ dại. Phát cũng ít khi ở nhà nhưng bàn thờ được bài trí cẩn thận. Hai người ra bờ hồ, uống cà phê, nhìn đám lau lách và bờ bụi, rồi ghé chợ mua ít đồ về nướng, làm vài lon bia, cũng chẳng có chuyện gì to tát để kể với nhau cả.

Bắt đầu từ một sự tình cờ. Hai năm trước, anh hay đi Nha Trang vì có nhiều người quen ở đó, rồi từ đó về Bình Định đón Tết. Chuyến xe dừng lại ở Bà Tô, anh bất ngờ thấy Phát lên xe, khuôn mặt đỏ nhừ vì rượu. Phát bảo ra Nha Trang đón tết ở chùa. Và thế là anh đã đi lên chùa cùng với Phát. Anh nghe Phát nói nhiều về danh tiếng của người sư phụ Lương Sơn Long Viễn nhưng sư phụ đang ở Ấn Độ nên anh không được gặp.

Anh gặp vài người, nhưng lần đầu tiên nên cũng không ấn tượng gì cho lắm. Anh ở chùa, nấu bánh tét một đêm rồi trở về. Phát chở anh ra đường quốc lộ đón xe. Vì còn quá sớm, bọn anh uống cà phê ven đường và nhìn xa xa về những quả núi che mờ bởi màn sương sớm. Phát chỉ cho anh từng ngọn và bảo rằng, nó đã đi đến những đỉnh núi ấy.

Hồi đầu năm anh đã không trở về mà ra Nha Trang đón Tết ở chùa cùng với Phát. Anh vẫn nấu bánh tét, bê những chậu hoa lên điện thờ và đắp những viên đá tròn lên đài sen tượng Phật. Anh đã gặp người sư phụ Lương Sơn Long Viễn. Phát viết thư pháp để tặng cho những người đi chùa. Anh xin Phát viết hai bức. Một bức là bài thơ chúc Tết của người sư phụ Lương Sơn Long Viễn, anh đã tặng nó cho anh Hưng. Bức còn lại là một câu thơ mà anh rất thích “Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa. Tại sao cây táo lại nở hoa”. Nhưng rồi anh lại nghĩ câu thơ này có vẻ không phù hợp. Anh vẫn để bức thư pháp dưới gấm giường vì không biết nên treo nó ở đâu. Anh định lần sau sẽ nhờ Phát viết một câu về mẹ. Anh nghĩ đến câu “Cho đời mãi trong lành. Mẹ chìm dưới gian nan”.

Nha Trang, đối với anh như một sự hội ngộ tình cờ nho nhỏ. Gần cảng cá Lương Sơn, biển xanh nắng vàng, có một ngôi chùa. Anh nhớ rõ con đường ngoằn ngoèo lên hẻm núi mà người sư phụ viết rằng:  “đường đi vào ngõ núi mịt mù tăm tối, ta dùng ngàn giọt lệ chiếu soi. đêm về một mình đối diện với ngọn đèn lạnh càng tăng thêm nỗi buốt giá đến kinh hồn”. Anh nhớ nơi giữa hai cái cây xà cừ, anh đã đào lên để nấu bánh tét, dòng suối mát trong. Nhớ đến nụ cười của vị sư phụ còn rất trẻ nhưng tỏa ra một thứ ánh sáng từ bi thật huyền dịu. 

Nhưng chỉ vài hôm trước thôi, Phát gọi điện, hỏi anh có còn ở Sài Gòn không? Có thể cho nó mượn 500k vì ngày mai nó phải đi Đà Lạt mà không đủ tiền. Anh chạy xe gần 1 tiếng đồng hồ, tới công viên Hoàng Văn Thụ để đưa cho nó 500k. Nó bảo chỉ xuất gia giao duyên một tuần thôi, chứ giờ nó vẫn là người thường. Anh nghĩ đến vị sư phụ Lương Sơn Long Viễn, Phát sẽ chẳng bao giờ trả tiền cho anh và cũng chẳng đáng cho lắm.

Rồi anh lại nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ từ bỏ cuộc đời này nếu trong những thời khắc khó khăn nhất, nó đã không bỏ lại. Anh nhớ đến bộ phim: “Matxcơva không tin vào những giọt nước mắt”. Cảm xúc là một thứ gì đó dễ đánh lừa chúng ta. Hãy đừng tin những giọt nước mắt trong những lúc yếu đuối nhất.

Anh cũng yêu người khác rồi, người đó cũng như em, không yêu anh.

Một gã chó cắn *

*gã biết giá cả mọi thứ mà không hề biết giá trị của thứ gì hết.

Gã có kiểu nói thế này: Jack Ma khuyên rằng, hãy nói bằng trái tim. Hoặc Steven Jobs thì chưa bao giờ là thất bại nếu bạn chưa từ bỏ. Warren Buffet sống rất giản dị. Gã thuộc nằm lòng những con người và những câu nói kiểu như thế.

Gã để đầu giường những cuốn sách kiểu như: Tôi tài giỏi và bạn cũng thế của Adam Khoo. Tay không gây dựng cơ đồ. Nghĩ giàu làm giàu. Tôi chưa từng thấy gã cầm những cuốn sách ấy lên và suy ngẫm kiểu triết gia. Nhưng – có lẽ, gã đã đọc qua. Điều mà tôi từng thấy là gã lên Youtube mở những video kiểu như: 100 câu nói nổi tiếng của Jack Ma làm thức tỉnh thế giới. Trong khi lão kia thuyết trình, gã vắt chân chữ ngũ và từ từ chìm vào giấc mộng.

Gã kể từng làm việc 18 tiếng mỗi ngày và làm đủ nghề để sống, từ phục vụ nhà hàng đến quản lý quán bar. Gã mở quán ăn. Quán cũng đông khách nhưng rồi gã không làm nữa. Những người bạn đã phản bội và lừa dối lòng tốt của gã. Gã thấy mệt mỏi với cuộc sống hiện tại. Gã muốn tìm một khoảng lặng và gã tới đây trong một căn phòng với sáu chiếc giường tầng, máy lạnh mở sáu tiếng một ngày. Phòng nấu ăn chung, hai chiếc máy giặt.

Khi người ta hỏi gã đang làm gì. Gã bảo: đang ở không. Người ta nhìn gã với vẻ nghi ngờ. Gã nói: nhà mình có điều kiện. Gã sẽ thể hiện một chút kiến thức về nấu ăn khi cuộc đối thoại diễn ra ở nhà bếp (và chẳng còn ở đâu cả). Gã nói nên nấu thế này, thế kia với vẻ từng trải và chắc nịch. Tôi không nghĩ, gã có thể kiểm tiền với đống kiến thức bồng bông như thế. Gã không phải là đầu bếp. Nhưng gã biết, nó nên như thế.

Gã chẳng làm gì, kể từ khi chuyển đến ở chỗ chúng tôi, ngoài việc ăn, ngủ, chơi gam và xem youtube. Giờ giấc sinh hoạt cũng rất thất thường, có những hôm gã chơi game xuyên màn đêm. Đến khi mọi người đi làm hết, gã lại ngủ vùi trong những cơn mơ màng về sự giàu có. Gã xuống bếp nấu ăn và mang tới chỗ cô bạn gái. Gã thường trở về vào lúc 12 giờ đêm. Như thế, ngày qua ngày. Chủ nhật, gã đi lễ nhà thờ và ăn mặc tươm tất hơn một chút.

Gã sẽ trở thành một doanh nhân nhưng điều quan trọng là gã cần nghỉ ngơi. Gã người cao lớn, vóc dáng cũng cân đối, khuôn mặt góc cạnh. Tôi cũng nghĩ gã sẽ trở thành một doanh nhân với những mối liên hệ về sự giàu sang dày đặc trong đầu gã.

Đó là dạo chúng tôi còn có thể nói chuyện với nhau. Vào một ngày mưa và đường phố Sài Gòn nổi lềnh bềnh những thứ rác rưởi. Nếu có thể bắt chuyện với ai đó trong phòng, gã sẽ nói: cái đất nước này, trăm năm nữa, cũng chẳng thể khá nổi với những đứa đầu bò và tham tiền. Bao nhiêu tiền chúng nó ăn hết, kể cả con cháu chúng nó. Dân chúng là một lũ dốt đặc. Gã sẽ nói ra hàng trăm thứ xấu xa của chủ nghĩa cộng sản. Những đứa đầu bò, những kẻ hám tiền.

Những ngày sắp Tết, tôi được tặng một chai rượu vang. Mọi người đã về hết, trong phòng chỉ có hai chúng tôi. Tôi nghĩ mình sẽ mời gã chai rượu vang này như một cách chia tay trước khi nghỉ Tết. Khi tôi nói ra ý định của mình. Gã với cái vẻ khinh khỉnh, đôi chân mày hơi nhướng lên một chút. Gã làm tôi bất ngờ khi câu đầu tiên mà gã nói lại là: chai này chắc khoảng 160k. Tôi hơi khựng lại và nghĩ rằng, chai rượu này thật tầm thường. Tôi không hiểu, khi nhìn bức tranh với giá 5 triệu, gã sẽ nói gì. Nhưng rồi chúng tôi cũng khui chai rượu và uống với nhau.

Gã bảo, sẽ không đi làm chỉ để kiếm 7-8 triệu/tháng. Có những suy nghĩ khác biệt giữa người giàu và người nghèo. Gã sẽ trở thành một doanh nhân. Người giàu sẽ suy nghĩ trở thành một người giàu có, tự tao ra công việc cho mình, còn người nghèo họ chỉ chờ ban phát và so bì. Họ sống ích kỷ, vụn vặt và nhỏ nhen. Hãy học cách tư duy như những người giàu: hãy luôn nghĩ lớn và làm những việc lớn, hãy theo đuổi sự giàu có như đam mê và thật hạnh phúc khi kiểm được thật nhiều tiền.

Câu chuyện không hứng thú vì cái vẻ lơ đãng của tôi. Tôi và gã thật sự không có nhiều điểm chung. Nhưng gã lại khác, gã vẫn nói với cái kiểu hùng hồn và trải đời. Tôi không hiểu gã sẽ nói thế nào, khi đứng trước một người giáo viên, ở một vùng xa xôi hẻo lánh với mức lương còm cõi 4 triệu/tháng. Gã sẽ coi thường những công việc kiểu như thế, gã sẽ bỏ nghề giáo và đi cho vay nặng lãi. Gã bảo công việc của tôi thật khó làm giàu. Tôi cũng nghĩ thế.

Tết tôi sẽ không về quê mà ra Nha Trang ở vài ngày. Tôi có nhiều người thân ở đó. Tôi không biết gã quan tâm điều gì ở tôi. Gã nói rằng: gã sẽ không bao giờ đi Nha Trang thêm một lần nào nữa. Đó là một nơi tồi tệ. Rác và rác. Chặt chém đủ thứ. Bọn ngoại quốc, chúng đi du lịch như muốn đánh chiếm hết những hòn đảo. Nếu có tiền, gã sẽ đi BangKok hay Seoul.

Sau Tết trở lại, tôi không còn muốn nói chuyện với gã nữa. Tôi biết những câu chuyện sẽ đi đến đâu. Những vực thẳm, những nơi đầy bụi bẩn và rác thải, hay một nơi toàn mùi tiền. Gã làm tôi thấy khó chịu, bởi giờ giấc sinh hoạt ngày ngủ, đêm chơi game. Bởi những tiếng nhóp nhép khi gã ăn táo, khi gã hút rột rột hộp sữa. Tiếng cót két khi gã bước xuống chiếc giường tầng. Những tiếng súng và những lời cộc cằn trên màn hình điện thoại: “Dm, một mình tao chấp hết.”

tôi , như không hiện thực cho lắm.

53403607_2155043604534466_5849704899775823872_n

có thể, hôm nay là một ngày rảnh rỗi để viết. vì mình bắt đầu kỳ nghỉ khoảng một tuần. và mình đã chụp bức ảnh trên khoảng một tháng rồi. mọi thứ vẫn còn đó. ngồi trong quán cà phê và sài gòn lại mưa. mình đã xa sài gòn đủ lâu, để không còn nhớ những cơn mưa bắt đầu từ khi nào. những cơn mưa ở vũng tàu đến sớm nhất vào khoảng cuối tháng tư. thật ra, mình chỉ muốn viết lan man một chút về: rượu vang không chỉ ngon mà còn là nghệ thuật.

chỉ một câu đơn giản đọc trên chai rượu mà mình nghĩ sẽ uống rượu vang cho những tháng năm còn lại, với lại nó cũng không quá đắt. thế là mình đã mua chai rượu vang thứ hai, hay thứ ba gì đó trong đời và uống cho những lúc thế này. 

nếu có thứ gì đó khiến bạn vừa buồn, vừa đau, vừa đẹp, đó là nghệ thuật. tất nhiên người ta có hàng đống lý do để định nghĩa về nghệ thuật nhưng đối với mình là thế. bạn sẽ bắt gặp rất nhiều thứ trong đời như thế và rồi chúng sẽ cất lên tiếng ca bi thương của mình như chú chim hót trong bụi mận gai. buồn, đau và đẹp.

ở đất nước mà người ta đổ hàng tỷ lít bia vào người như một cách chứng tỏ thì mình đã tránh xa sự nhàm chán và mệt mỏi mà nó gây ra. người Việt hình như không tìm ra nhiều lý do để uống rượu vang, để bắt đầu những câu chuyện lớn, quên đi những ưu phiền của cuộc sống trong vẻ đẹp dịu dàng mà nó lên men. màu sắc như vết cắt trong trái tim đau.

sau tất cả những buồn, đau. vẻ đẹp thật sự chỉ nằm trong mắt của những kẻ mơ mộng. bạn có phải là một kẻ mơ mộng. à, mà mình vừa xem xong bộ phim “cuộc đời bí mất của Walter Mitty” được chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên nổi tiếng của nhà văn James Thurber. câu chuyện nói về những kẻ không để tâm tới hiện thực, thậm chí trong tiếng anh người ta dùng từ walter mitty để nói về những gã mơ mộng.

tôi, cũng có thể là một gã như thế. một gã chẳng bao giờ lao đầu vào kiếm tiền như thiêu thân. một gã ngày nào cũng phải đọc một dòng tin tức từ Manchester vì tôi đã xem United từ khi còn là một cậu bé lớp 8. một gã, thỉnh thoảng lại lôi cuốn “bông hồng vàng và bình minh mưa” của K.Paustovsky ra đọc. đôi lúc, tôi lại thấy sợ cuộc sống trở nên quá hiện thực và trần trụi. ở đó, chúng ta phải đương đầu với lẽ sống, với từng bữa cơm, chi chiết và ganh đua nhau những điều vụn vặt. tôi , hình như không hiện thực cho lắm.

James Thurber đã viết thế nào nhỉ để kết thúc truyện: ” Walter Mitty kẻ Bất bại, bí hiểm cho đến tận cùng. “

tôi không nghĩ, mình đã từng viết điều này, ở đâu đó trong cái blog bé nhỏ này. chúng ta hoặc ai cũng đã từng nhìn ngắm những vùng đất, con đường khi đi trên những chuyến tàu. có một vùng đất bỗng hiện lên trong tầm mắt chúng ta đầy thơ mộng, bờ cát trắng trải dài, bãi cỏ xanh, cánh đồng vàng, gió bên quán vắng liêu xiêu. chúng ta, ao ước được lang thang trong những miền thơ mộng ấy nhưng con tàu cứ đưa chúng ta đi xa mãi.

nhiều năm liền đi đi, về về giữa những nổi ưu phiền của cuộc sống, chúng ta vẫn giữ thói quen ngắm nhìn cái vùng đất ấy. những ngôi nhà mới, những đứa trẻ thơ. bầu trời nơi ấy như cao hơn, nước biển xanh trong hơn. chúng ta tưởng chừng như rất thân thuộc nhưng chưa một lần chạm tay vào nó. con tàu lại đưa chúng ta đi xa.

bên sông trăng biết có đợi ai

lâu rồi, không viết.

nhân sau một chuyến đi và gặp bài thơ “xuân giang hoa nguyệt dạ” (đêm hoa trăng trên sông xuân) của Lưu Nhược Hư. đây là bài thơ trữ tình nổi tiếng của Trung Quốc được ca ngợi là thơ trong thơ, đỉnh núi trong các đỉnh núi.

hay là nỗi lòng kẻ ở trên núi Lương Sơn.

trên núi Lương Sơn, gần cảng Lương Sơn – Nha Trang, có một người Phật tử mặt đẹp tựa trăng rằm, tỏa ra một thứ ánh sáng huyền diệu. hiệu là Lương Sơn Long Viễn.

khấp huyết phù thê mạt thế khuynh
đoạn trường bạch phát vấn hà sinh
quan sơn u lộ quang thiên lệ
độc đối hàn đăng giá mộ kinh.

-Lương Sơn Long Viễn-

dịch nghĩa:

khóc ra lệ máu đau xót vô cùng thương cho đời Mạt thế đổ nát suy vi.
ruột ta đứt từng đoạn, tóc xanh hóa bạc đầu hỏi bởi do đâu?
đường đi vào ngõ núi mịt mù tăm tối, ta dùng ngàn giọt lệ chiếu soi
đêm về một mình đối diện với ngọn đèn lạnh càng tăng thêm nỗi buốt giá đến kinh hồn!

một bài thơ tự trào mà người trẻ tuổi ấy phải thốt lên những từ như khóc ra lệ máu, ruột ta đứt từng đoạn, buốt giá đến kinh hồn cho đời mạt thế đổ nát suy vi. kẻ nào ngay từ thuở ấu thơ đã ấp ủ giấc mơ đi tìm Chánh Pháp và Người đã ra đi, tưởng chừng như một giấc mơ viễn vông của trần thế nhưng Người đã hiến trọn tuổi xuân của mình cho hạnh phúc chúng sanh.

tôi may mắn được gặp người Phật tử ấy với đôi mắt từ bi và một niềm cảm mến như xa xưa từ thuở nào. mặc dù đây chỉ là lần đầu tiên và lần thứ hai ở chùa nhưng lại tự hứa với mình rằng, mỗi năm phải ghé Nha Trang thăm kẻ kẻ thiện chân ấy một lần như một cách để tạ từ với cuộc đời.

kẻ ấy muốn chép hai câu thơ trong bài “xuân giang hoa nguyệt dạ” để lưu thành một bức thư pháp đó là câu:

“bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân.
đãn kiến trường giang tống lưu thủy”
(bên sông trăng biết có đợi ai
mà sao chỉ thấy sông dài nước trôi)

ánh trăng cô đơn từ bao đời chiếu sáng nhân gian. có ai hiểu được nỗi lòng của trăng. hay cho câu: biết trăng có đợi ai mà sao chỉ thấy sông dài nước trôi. đau cho những kẻ đã xem thứ ánh sáng thuần khiết và huyền diệu ấy để tỏ tấm lòng trinh bạch nhưng người đời có ai hiểu thấu. trăng đợi một kẻ tri âm, tri nhân nên ngàn năm đơn độc.

“đêm nay lạnh trăng buồn len gối mộng
soi vào lòng vỡ nát trái tim đau
trăng ơi trăng, trăng sáng cả hoàn cầu
trăng có biết hai thời gian chia cách?

con bước đi trông nỗi buồn hiu quạnh
ánh trăng mờ băng giá lạnh my cay
nước mắt rơi, ôi buốt giá thân gầy
con đau quá! Phật ơi! Người có thấu?”

-Lương Sơn Long Viễn-

đáng thương cho kẻ đau nỗi đau của trần thế.

và đời vẫn là dòng chảy mênh mông. biết có ai đợi ta trong sương gió. tết này, tôi cũng chẳng trở về nhà nên mượn tạm hai câu thơ trong bài “xuân giang hoa nguyệt dạ”:

“bạch vân nhất phiến khứ du du,
thanh phong phố thượng bất thăng sầu.”
(mây trắng một dải, vẩn vơ bay
cây phong biếc trên bờ buồn khôn xiết)

không kể gì với nhau suốt mùa mưa

đúng là tôi và Vinh chỉ nói với nhau không quá hai câu trong một ngày mặc dù ở chung phòng trọ (ngoại trừ những lúc ngồi uống bia). ai cũng mang một nỗi niềm riêng khó chia sẻ hoặc là giữa hai người đàn ông. bạn sẽ không hình dung chúng tôi đã nói gì nhưng nó luôn ngắn củn như thế.

điều gì đó ngột ngạt. suốt cả mùa mưa.

Vinh bảo rằng, nó chẳng ở đây lâu, sau khi tích góp đủ số vốn cho một cuộc hồi hương. về với người mẹ nghèo khó, tảo tần sớm hôm, tiều tụy đi nhiều. nó là đứa không có bố.

dưới là hình ảnh khu nhà trọ.

tôi chụp trước tết, lúc cây xoài vẫn còn sống, bạn có thể nhìn thấy những vết khoét như vết thương được gọt bỏ trên thân cây nhưng chẳng thể cứu nỗi nó bởi một loại bọ đục thân. bây giờ ở vị trị của nó trống hơ, trống hoác. nắng và không có chú chim sẻ nào tìm đến nghỉ trưa.

thằng bé đang trèo lên cây xoài là đứa trẻ lỳ đòn nhất mà tôi từng gặp. tôi không biết làm gì nếu những trò đùa lại kết thúc bằng một cú ra chân và nó sẵn sàng hét vào mặt bạn những từ ngữ khó nghe mà một đứa trẻ lớp một không bao giờ thốt ra kiểu như: “thằng chó”. bạn có cho nó bao nhiêu trận đòn đi chẳng nữa, nó vẫn sẽ thốt lên những từ ngữ ấy trong cơn bực tức. nó đã học được cách sống như thế. trong một căn nhà trọ chật hẹp với đầy đủ những thứ ngổn ngang. không nhét vừa một chiếc bàn học. những lo toan bận bịu của cuộc sống cứ lớn dần.

tôi không biết khi nào thì thằng bé có một ngôi nhà đúng nghĩa trong sự ấm áp và bao dung. không còn những tiếng la hét, chửi rủa.

DSC_0011.JPG

phải rời xa nơi đây. trở lại sài gòn thêm một lần nữa, tôi không thấy luyến tiếc gì lắm hay là những sợi dây ràng buộc chưa đủ chặt để tôi cảm thấy đau đớn. chỉ là một chút lo lắng, bởi sài gòn không dành cho những kẻ thích dạo chơi với tâm hồn lơ đãng. tôi chỉ nghĩ mình phải xa biển.

biển bao dung đã cố rửa sạch vết thương màu tím của tôi. những năm qua là một nốt lặng. kể cũng lạ, con người ta có thể khổ sở vì một điều gì đó cả đời, nhưng niềm vui lại thoáng qua nhanh.

sầu rót bao nhiêu chẳng cạn. mới vui một tý đã đầy.

và khi viết những dòng này, tôi đã ở Sài Gòn. tôi chuyển lên từ đầu tháng. tôi cũng không nói gì với Vinh, mặc dù nhìn dây treo quần áo đã được rút đi, nó cũng hiểu rằng tôi đã lên thành phố. tôi cũng chẳng buồn nói với ai và có lẽ mọi người có khi lại nghĩ rằng tôi đang lang thang ở một bờ biển hoang vắng nào đó. như thế lại hay.

thật sự thì tôi chỉ báo với một người.

nhiều năm trước, khi lần đầu đặt chân xuống bến xe miền đông. tôi đã gọi anh Phong. và lần này, tôi nhắn một cái tin gọn lỏn: “em lên sài gòn làm rồi, hôm nào anh có đi ngang đường nguyễn văn linh, ghé em cafe”.

tôi không biết có nên nói với ai nữa không? ai cũng có một cuộc sống riêng, có khi họ không thích gặp lại những điều đã quá cũ kỹ. tôi cũng không còn tâm trạng của một kẻ tò mò, lang thang thành phố với những điều mới mẻ. đường vẫn chật chội và thỉnh thoảng người ta lại tuyên bố những tòa nhà cao tầng mới.

tuần trước, tôi mang theo ít đồ biển từ Vũng Tàu (bạch tuộc và hàu) qua nhà anh làm vài lon. tôi rất ghét dùng từ “nhậu”, cảm giác nó vừa thô tục lại thiếu văn hóa. anh mua được một căn chung cư ở khá xa chỗ tôi ở, tầm nửa tiếng xe máy. tôi không dám chắc khi nào thì mình sẽ đủ thu nhập để mua được một căn chung cư như thế. anh lấy vợ khá trễ nên bây giờ vẫn chưa có con. một điều phiền muộn. chúng tôi không có nhiều điểm chung để nói ngoài chuyện gia đình và công việc. anh hỏi tại sao lại quyết định chuyển lên sài gòn, sống bên biển thoải mái vậy mà. tôi chỉ bảo, nó không mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển bản thân, công viêc làn nhàn. rồi anh hỏi tôi khi nào lấy vợ. chúng tôi vừa nói vừa làm sạch bạch tuộc và cạy những con hàu.

sài gòn bây giờ mang cho tôi một cảm giác khác. tôi đủ tiền để thuê một căn phòng máy lạnh, có wifi, bếp nấu ăn riêng, máy giặt, toa lét trong, mặc dù phải chia sẻ phòng cho ba người với những chiếc giường tầng kiểu kí túc xá nhưng cũng thoải mái hơn nhiều. tôi vẫn nhớ về cái thời mình thuê một căn phòng trọ bên ga Sài Gòn vỏn vẹn bốn mét vuông với giá 500k, mỗi lần tàu vào ga những tiếng hú kinh khủng mỗi sáng.

tôi không bận tâm những con người cũ họ đang sống như thế nào ở Sài Gòn, có thể họ đã mua được một căn chung cư trong nỗi khoắc khoải về một chốn dung thân nào đó. và vì họ sống đủ lâu để cảm thấy ổn.

người đồng nghiệp của tôi và là một người bạn thời đại học, giờ là giám đốc của công ty kiểm toán luôn cố nhét vào đầu tôi những tư duy của một người thành công nào là phải quyết tâm, học hỏi kiến thức, chỉ nên cười mỉm với khách hàng, phải sống có mục tiêu rõ ràng, đừng để cảm xúc chi phối. hàng đống những nguyên tắc trong cuộc đời này.

tôi không biết mình có trụ nổi ở thành phố này không. như đã có lần tôi vứt bỏ nơi này.

DSC_0049.JPG

Không có người biết khóc – các chân mây

“Tôi khóc những chân trời – bụi đỏ
Ở đó: vắng người
không có người biết khóc – các chân mây”


Khoảng hai năm trước, tôi và Vinh có thuê một mảnh đất, cách chỗ làm khoảng tầm 15 cây số. Chúng tôi bị đánh lừa bởi đám cỏ dại vào mùa mưa đã che lấp đi những khô cằn sỏi đá, trầm tích dưới đó.

Căn nhà với mảng tường nứt toác. Cây mai nhiều năm không ra hoa. Những cây điều theo nghĩa hoang tàn và năm cây xoài có vẻ sung sức lắm. Chủ của nó, một người giàu có, mua nhà ở thị trấn và treo biển bán đất lủng lẳng, xiêu vẹo ở ngõ nhiều năm liền nhưng vì quá cằn cỗi mà không ai mua. Cánh rừng tràm bên cạnh thỉnh thoảng lại thổi vào một cơn gió mát lạnh. Tôi mua một chậu hoa dạ yến thảo treo ở cành mai, nở những hoa tím ngắt, bé xíu.

Tôi đã chán ngấy với việc nhốt mình trong căn phòng trọ chật hẹp ở khu tập thể công nhân. Mái tôn tỏa ra sức nóng hầm hập vào mùa hè.

Mỗi chiều trên đường trở về, nhìn từ xa những quả núi trông như cái đầu của một thằng oắt con được cắt gọt theo kiểu tân thời, trơ lên những khối đá đỏ bạc màu. Những chiếc xe chở đá, cát bụi bay mù mịt, giày xéo cả con đường.  Đất ở đây trở nên cằn cỗi, khi mà rừng cây dần mất đi, những mạch nước ngầm cũng không còn. Tôi sợ, không biết đến khi nào, họ sẽ phá nát những quả núi xanh um nơi đây. Cát bụi cũng như có màu đỏ.

Hàng xóm là một gia đình từ miền Bắc. Nhà họ có một ao cá trơ đáy vào mùa khô và nuôi đủ thứ, bò, gà, vịt, dê. Họ có một vườn rau. Buổi tối, sau bữa cơm, cả gia đình họ lại ngồi trước hiên nhà. Ấm trà đặt trên bộ ghế đá thật thanh nhàn, nói đủ thứ chuyện. Thỉnh thoảng, họ lại im bặt để tiếng đứa trẻ ê a học bài.

“Chữ này , không phải là chữ H đâu nhé!”

Nơi đây, làm tôi nghĩ đến quê nhà với cái vẻ bình yên của nó. Những đêm trăng, khi đi bộ qua cánh rừng tràm, gió xào xạc và mát lạnh. Hai chú chó cứ quấn lấy chân tôi. Sự trầm lặng của cánh rừng làm mọi thứ như lắng đọng. Trái tim tôi rộn ràng điều gì đó khó hiểu. Tôi châm điếu thuốc cho đỡ hiu quạnh.

Tôi lớn hơn Vinh bốn tuổi. Nó là đứa không có bố. Mẹ nó qua lại với một người đã có gia đình và sinh ra nó. Người ta cố đoán ra xem, khuôn mặt của nó mang bản sao của ai. Từ căn nhà  tranh dột nát, ngập nước vào mùa mưa, cho đến khi mẹ nó tích góp đủ tiền xây ngôi nhà bằng xi măng, gạch đá, khang trang hơn trước rất nhiều. Từ một chú bé loắt choắt, nó cũng lớn lên, thay mẹ làm tất cả mọi việc của một người đàn ông trong gia đình, bỏ phân, kéo rạ, đến gặt đập, gánh lúa.

Vinh học đến lớp mười hai thì nghỉ học. Như những đứa trẻ khác.

Vinh đi biển. Tôi chưa từng lênh đênh giữa biển khơi như thế. Tôi không biết chân trời ở đó thế nào. Những câu chuyện rơi rụng mà tôi nhặt được trong lúc Vinh uống rượu chỉ là một thứ mênh mông. Mênh mông như không có chân trời. Ngay cả việc đi vệ sinh, nếu lỡ chân rơi xuống biển, chỉ trong tích tắc, những con sóng cao sẽ cuốn bạn đi xa. Những cái chết không kèn, không trống, không xác người đi, nơi quê nhà. Vì đứa con duy nhất, nên mẹ nó nằng nặc đòi nó phải làm trên đất liền.

Nó thất thểu trên chiếc xe khách vào cái mảnh đất này, trong người không còn một đồng.

“Vào đây làm công nhân một thời gian”


Một định luật của Newton

Có một câu chuyện, anh loay hoay nhiều năm mà không thể viết được cái kết. Hay là bản thân của nó đã không có kết cục nào. Người thầy trong câu chuyện mắc phải một căn bệnh trớ trêu như ông hoàng vật lý Stephen Hawking. Người đàn ông đã trút những hơi thở cuối cùng vào ngày 14/3/2018. Mộ của Stephen Hawking được đặt cạnh mộ Newton ở tu viện Westminster Abbey.

Dạo gần đây thấy báo chí đưa tin nhiều chuyện thầy trò rất đáng xấu hổ. Hóa ra, thì anh bỏ quên câu chuyện này đã lâu. Và anh biết có những người, đôi khi phải bỏ lửng câu chuyện của mình nhiều năm và chờ đợi một cái kết bất ngờ của cuộc sống. Hy vọng một cái kết có hậu.


 

Ngày xưa, thầy dạy môn vật lý, hào hoa, đẹp trai, lại biết đánh đàn. Học sinh rất ngưỡng mộ và muốn được làm học trò của thầy. Tiết học của thầy lúc nào cũng sôi động và nhiều điều thú vị. Từ năm lớp mười đến lớp mười hai, thầy đã giới thiệu cho chúng biết bao những con người vĩ đại.

“Các em, thế giới của chúng ta được chi phối bởi hai vũ trụ. Vũ trụ Newton và vũ trụ Einstein, họ là hai người khổng lồ, hai người cô đơn và hai nghệ sĩ đích thực. Ở Newton, thời gian trôi một cách đều đặn, mọi thứ đều có thể giải thích được dựa trên quan hệ nhân quả như trái táo rơi. Newton đã khảo sát mọi hiện tượng của thế giới vật lý từ con lắc, lò xo đến quỹ đạo của những hành tinh xa vời. Đối với Einstein, thế giới của chúng ta chông chênh hơn rất nhiều, những hiểu biết chắc chắn được thay thế bằng xác suất, tuyệt đối được thay bằng tương đối. Đó là một lý thuyết khó hiểu và đỉnh cao của khoa học.”

Trong nhiều năm liền, thầy được chọn để dạy cho những học sinh giỏi nhất của trường. Thầy, một con người xuất sắc và ưu tú. Với vẻ ngoài thân thiện và trìu mến, thầy chẳng những truyền đạt về mặt kiến thức mà còn chỉ dạy cho học sinh những điều hay lẽ phải về cách làm người.

“Có một điều mà thầy luôn trăn trở khi đứng trên bục giảng. Đó là năm đầu tiên đi dạy, thầy được dự giờ một tiết học với đoàn thanh tra. Người giáo viên trên bục giảng còn khá trẻ, tỏ vẻ hơi lúng túng và đã ghi sai một chữ trong định luật cơ bản của Newton. Chỉ một chữ thôi các em ạ. Những người học sinh đã không nhận ra. Nhưng người trưởng đoàn đã tỏ ra vô cùng giận dữ và đề nghị nhà trường cho nghỉ việc người giáo viên ấy. Quan điểm của ông ấy là một người giáo viên không được phép mắc những sai lầm về mặt kiến thức như thế. Một người thợ máy, một chị lao công chỉ có thể ảnh hưởng đến vài người. Nhưng cái sai của một người thầy có thể làm hỏng cả một thế hệ, thậm chí là từ thế hệ này, sang thế hệ khác. Một người thầy phải hoàn toàn đứng đắn cả về nhân cách.”

Những người học trò xuất sắc nhất của thầy thường được chia làm hai. Một là gia đình rất khá giả quyền chức, hai là gia cảnh nghèo nàn. Trong số những con người xuất sắc ấy, thầy đặc biệt chú ý đến một người tên X. Nhà cậu ta ở lọt thỏm giữa một cánh đồng lớn và người bố bị điên. Trong suốt những năm tháng khổ sở đó, người bố đi lang thang trên cánh đồng với bộ dạng rách nát và khi cơn điên bùng phát dữ dội ông đập phá mọi thứ. Nhiều khi ông cứ đi như thế, hai, ba hôm không trở về. Nhiều người đã tỏ ra ngạc nhiên khi biết cậu ta là con của người điên và không quên tặc lưỡi, thời thế tạo anh hùng. Cậu ta có một đặc điểm rất dễ nhận ra là đôi mắt. Con mắt phải bị hư, mờ đục vì đã nghịch thuốc nổ trong những viên đạn còn sót lại trong lúc đi chăn bò. Dường như cuộc sống khó khăn đã tạo ra cho cậu ta một ý chí rất lớn để vượt qua nghịch cảnh.

Kỳ thi đại học năm đó, tất cả những học trò xuất sắc mà thầy tin tưởng đều thi đậu vào những trường đại học lớn của cả nước. Người thì công nghệ thông tin, kẻ thì bác sĩ, không nữa thì kinh tế, xây dựng. X thi vào trường đại học sư phạm kỹ thuật và đỗ thủ khoa. Cả làng kéo đến chúc mừng và ủng hộ ít tiền. Nhưng tiền đâu để người mẹ có thể nuôi cậu ta trong suốt bốn năm đại học và người bố bị điên đã được đưa vào trại tâm thần. Cuối cùng vì tương lai, người mẹ đã quyết định bán căn nhà lấy ít tiền, vào thành phố thuê trọ, bán vé số nuôi con ăn học. Nhiều người đã tỏ ra ngậm ngùi trước hoàn cảnh của cậu ta, nhưng biết làm sao được.

Ngày mà những người học trò của thầy rời bỏ làng quê ra những thành phố lớn, mang trong người bao mơ ước về cuộc sống mới. Thầy đã mời những người học trò đến nhà thầy để làm bữa tiệc nhỏ, chia tay. Duy chỉ có X, có lẽ cậu ta vì mặc cảm cho bản thân mình mà không đến. Và đối với cậu ấy, cũng chưa phải là cuộc vui thật sự. Còn nhiều thứ bừa bộn phía trước trong khi mọi người hầu như tương lai như đã được dọn sẵn trên bàn tiệc chỉ việc đánh chén.

“Các em sẽ bay cao và xa nữa. Nhưng cuộc đời thầy dường như đã gắn chặt với viên phấn, bục giảng và mái trường. Thầy chỉ là người gieo rắc những hy vọng, những mầm xanh. Các em là những người tiên phong, những người biến ước mơ thành hiện thực, làm cho đất nước chúng ta ngày càng tươi đẹp hơn. Là một người trồng cây, thầy không hy vọng điều gì hơn thế. Thầy đã truyền đạt cho các em rất nhiều điều, những định luật, những công thức, lời hay lẽ phải. Nhưng các em nên nhớ, cuộc sống phía trước là không có định luật hay công thức nào cả.”

Cuối năm ấy, thầy cưới cô giáo dạy tiếng Anh xinh đẹp nhất trường làm vợ. Một đôi trai tài gái sắc. Dường như cuộc sống đã viên mãn cho thầy, một con người xuất sắc và nhân cách. Một năm sau, vợ thầy sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Hàng ngày, trên bục giảng, người thầy vẫn say sưa truyền đạt những kiến thức mới mẻ cho những chú chim non với tất cả lòng nhiệt huyết.

“Khi nào, chính tay các em tự ươm mầm những cái cây, tự chăm sóc, tưới nước cho chúng tới ngày ra hoa và kết quả. Các em mới có thể hiểu được những gì mà thầy đang làm. Công việc ấy có thể kéo dài cả mười năm và đòi hỏi một lòng kiên nhẫn rất lớn.”

Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy. Những người học trò trở về từ những thành phố lớn thường đến thăm thầy, căn nhà nhỏ trở nên rộn ràng, ríu rít tiếng nói cười. Họ có thể trầm trồ vì chậu mai mà thầy cất công chăm sóc ra hoa rất đẹp hay như chậu lan treo trước nhà có màu sắc rất lạ. Họ có thể chúc cho thầy một gia đình thật hạnh phúc và bé trai sau này sẽ nối nghiệp thầy. Thầy có thể nhìn thấy trong họ những con người dần trưởng thành và chín chắn. Không phải là những khuôn mặt ngây thơ như ngày nào. Những lứa học trò ra trường và đã bắt đầu có việc làm. Đôi khi, gặp lại những người cũ, thầy vẫn hỏi thăm về cậu học trò tên X.

“Từ ngày tốt nghiệp, thầy chưa gặp lại nó lần nào, không biết giờ này ra sao nữa. Cuộc sống có thể khắc nghiệt nhưng có một điều, người nào còn cảm thấy mặc cảm vì mình ăn không no, mặc không đủ ấm, nhà chưa giàu có thì không phải nói chuyện về nhân cách. Chẳng lẽ nào, nó cứ nghĩ về một gia đình nghèo nàn.”

Năm ấy, thầy mắc phải một căn bệnh quái ác. Những bó cơ của thầy bắt đầu teo lại một cách khó hiểu. Dù người ta đã tiêm chích đủ thứ hóa chất để trì hoãn quá trình đó lại trước khi nghĩ đến việc trị dứt điểm căn bệnh. Mọi thứ vẫn cứ teo tóp lại một cách đều đều. Thầy vào Sài Gòn chữa bệnh, những người học trò cũ đến thăm, ai cũng vẻ mặt lo âu vì căn bệnh hiện thời rất hiếm và khó lòng chữa khỏi. Thầy nằm trên giường bệnh, vẻ mặt có chút nhợt nhạt nhưng điềm tĩnh:

“Giàu là có số, khó bởi tại trời. Thầy nghĩ rằng, một người giáo viên, một người thầy thuốc, họ cần phải đặt lương tâm lên trên tất cả. Có những nghề mà thượng đế đặt họ lên cao để thoát khỏi sự cám dỗ của đồng tiền. Đáng tiếc trong xã hội chúng ta hiện nay, sức cám dỗ của đồng tiền quá lớn đã làm những người giáo viên, những vị bác sĩ chạy theo sự đua tranh về tiền bạc dẫn đến những hiện tượng rất đáng buồn. Bản thân thầy không phải là người giàu có. Con người hay bạc vàng cũng không thể làm cho thầy trở nên nghèo nàn. Tiếc là tai họa lần này từ trên trời rơi xuống. Thầy có thể đứng vững nhưng thầy sợ nhất là vợ thầy sẽ chịu nhiều đau khổ.”

Lời nói của thầy trở nên lọng ngọng, chân tay vướng víu. Nó bào mòn thầy một cách thê thảm, những tưởng đã chết đi và sống lại. Từ bệnh viện trở về, một con người mang hình hài nhỏ bé, khuôn mặt hốc hác và không điều khiển được điều gì to tát kể cả lời nói khi những bó cơ không thể đảm đương được những công việc tưởng chừng như nhẹ nhàng. Không ai còn nhận ra con người đầy nhân cách, xuất sắc lúc trước. Những ánh nhìn của người đời tựa như những vết sắc nhọn và nhất là đôi mắt của người vợ trở nên sầu thẳm. Đôi mắt thầy lãng tránh, không còn là đôi mắt đầy tự tin, thắp lửa khi thầy đứng trên bục giảng:

“Đừng nhìn anh bằng đôi mắt như thế. Anh nhìn thấy rõ sự thương hại trong đôi mắt của người đời và thật là khủng khiếp đối với một người như anh. Cái chết có phải là sự giải thoát hay là sự lựa chọn của những kẻ hèn nhát.”

Một tháng sau, người ta giải quyết chế độ và hoàn toàn tước đi cái quyền đứng trên bục giảng của thầy. Đêm, khi mọi thứ bao phủ bởi bóng đen là lúc con người ta nhìn rõ bản thân mình nhất. Như giông bão, mọi thứ rung lắc một cách dữ dội và tưởng chừng như bị mưa gió vùi dập. Và nhất là trong bữa cơm tối muộn của gia đình:

“Một nỗi sợ hãi không tên hoặc lố bịch. Đó là nỗi sợ hãi khi anh phải đương đầu với từng cái chén, đôi đũa, từng bước đi khập khiễng. Đó là nỗi sợ hãi về nhân cách và lẽ sống. Căn bệnh đã cướp đi của anh mọi thứ. Em và con là niềm hy vọng cuối cùng của anh trong cuộc đời này. Anh không thể oán trách cuộc đời, bởi như thế là chẳng hiểu gì về con người. Anh sẽ chấp nhận mọi sự thật dù nghiệt ngã, nếu như em…”


(cuộc sống vẫn tiếp diễn )